Bé Bị Bỏng Nhiệt, Dấu Hiệu, Cách Sơ Cứu Và Phòng Ngừa

Trẻ nhỏ trong khi chơi nghịch rất dễ gặp phải tai nạn như ngã, bỏng, bị dị vật vào mắt… Mỗi loại tai nạn gây ra những vết thương khác nhau và cần có cách sơ cứu khác nhau. Sau đây https://ift.tt/3885mkv sẽ hướng dẫn các bậc phụ huynh sơ cứu vết thương khi trẻ bị bỏng theo từng nguyên nhân.Trẻ Bị Bỏng

Bé bị bỏng pô xe máy:

– Ngay lập tức, làm mát vùng da bị bỏng, bằng cách đặt vết bỏng dưới vòi nước (hoặc dội nhiều nước sạch lên vết bỏng), trong vài phút.

– Nếu có sẵn, nên bôi phủ vết bỏng bằng thuốc mỡ đặc trị để làm dịu và giúp vết bỏng mau lành.

– Băng lại bằng gạc sạch. Thoa thuốc bôi vào bông băng trước khi băng sẽ giúp bé đỡ đau hơn.

– Thay băng sau 24 giờ và sau đó mỗi 2–3 ngày. Rửa vết thương bằng nước muối, bôi thuốc mỡ đặc trị phủ kín vết bỏng và băng lại bằng gạc sạch.

– Không nên chọc vỡ bóng nước, bôi đắp các loại thuốc không rõ (vì sẽ làm chậm lành vết thương và thêm nguy cơ nhiễm trùng).

– Đưa bé đến cơ sở y tế, nếu trong quá trình chăm sóc tại nhà, có dấu hiệu nghi ngờ nhiễm trùng, như da bị đỏ lên hoặc mất màu ở vùng da bình thường quanh vết bỏng, vết bỏng có mùi hôi làm bé đau hơn, vết bỏng sưng nhiều, bé sốt hoặc kèm ớn lạnh.Trẻ Bị Bỏng

Bé bị bỏng lửa, nước sôi:

Khi trẻ không may bị bỏng lửa, nước sôi, cha mẹ và người thân cần nhanh chóng đưa trẻ ra khỏi nguồn gây bỏng và thực hiện các bước sau:

– Làm mát vết bỏng, tránh cho da khỏi bị rộp bằng cách mở vòi nước cho chảy chầm chậm lên vết bỏng khoảng 15 – 20 phút. Nước sạch vừa có tác dụng giảm nhiệt, giảm đau, giảm phù nề, viêm nhiễm, giảm độ sâu của vết thương. Không dùng nước lạnh, nước đá (trong tủ lạnh) để làm mát da cho trẻ.

– Nhẹ nhàng tháo bỏ những vật cứng trên vùng bỏng như giầy, dép, vòng trước khi vết bỏng sưng nề.

– Che phủ vùng bỏng bằng gạc vô khuẩn. Nếu không có gạc có thể dùng vải sạch.

– An ủi trẻ, cho uống nước và đặt trẻ ở tư thế nằm.

– Nếu vết bỏng nhẹ, diện tích da bị bỏng nhỏ, tổn thương có thể tự liền nhờ quá trình biểu mô hóa, thì sau khi sơ cứu có thể điều trị tại nhà theo hướng dẫn của bác sĩ. Nếu nặng hơn thì ngay sau khi sơ cứu cần chuyển trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để các bác sĩ điều trị kịp thời.

Nếu quần áo trẻ bị cháy

Nếu quần áo trẻ bị bắt lửa, điều trước tiên là phải giữ yên trẻ. Bất cứ sự chuyển động nào cũng sẽ làm ngọn lửa đáng sợ hơn.

1. Chặn bé lại, không để bé hốt hoảng chạy quanh vì như thế sẽ thổi bừng ngọn lửa. Đặt bé nằm trên sàn, phần bị bỏng ở phía trên.

2. Bọc bé trong một cái áo hay một tấm mền thô dày bằng len dạ để dập lửa. Đừng bao giờ dùng hàng nilon vì nó dễ bắt lửa.

3. Lăn bé trên sàn nhà để ngọn lửa tắt hẳn. Dội nước hoặc chất lỏng không bắt lửa, nếu có, lên người bé.

Lưu ý: Không cởi đồ bé ra. Quần áo có thể dính sát vào da, cởi quần áo sẽ càng gây tổn thương nhiều hơn.

Điều quan trọng là cần phòng tránh nguy cơ gây bỏng cho trẻ. Trẻ nhỏ vốn hiếu động, tò mò,… do đó cha mẹ cần luôn chú ý giám sát trẻ, sắp xếp đồ đạc mọi thứ quanh nhà hợp lý. Để phích nước sôi, thức ăn mới nấu, bàn là đang nóng, bật lửa,… ở nơi trẻ không sờ hoặc với tới được. Bố trí bếp và nơi nấu ăn hợp lý như để bếp lò phẳng, cao để trẻ không với tới được hoặc có vách ngăn không cho trẻ tới gần.

Khi nấu ăn luôn quay cán xoong, chảo vào phía trong. Không để trẻ nhỏ tự ăn, tự tắm vòi nước nóng lạnh, luôn kiểm tra nhiệt độ nước trước khi tắm cho trẻ. Khi bê nước nóng, thức ăn mới nấu tránh xa trẻ để không va đụng. Kiểm tra nhiệt độ của thức ăn, đồ uống trước khi cho trẻ ăn, uống. Không nên ăn thức ăn nóng khi bế trẻ nhỏ.

Khi bị bỏng ở mặt, điều đầu tiên là phải làm gì?

Dù bị bỏng do bất kỳ tác nhân nào: axít, tia lửa điện, hơi nóng, nước sôi… cũng phải ngay lập tức phải làm dịu vết thương (hạn chế bỏng sâu thêm) bằng cách dùng nước mát ngâm, xối ngay vào phần bị bỏng. Công đoạn này xử lý càng sớm, nhanh vết bỏng càng đỡ bị phù nề, biến dạng và ít để lại di chứng, thậm chí nhờ xối, ngâm nước lạnh kịp thời nhiều vết bỏng mặt có thể từ thể sâu chuyển sang nông.Trẻ Bị Bỏng

Trong trường hợp cần thiết nếu không có sẵn nước sạch vẫn có thể dùng nước hồ, ao, ruộng… làm mát vết thương bởi lúc này yếu tố nhiễm trùng chỉ là thứ yếu so với việc hạn chế độ sâu của vết bỏng. Rất nhiều trường hợp, người bị bỏng loay hoay tìm được nước sạch thì vết bỏng đã bị để quá lâu và nước mát, sạch không còn tác dụng nữa

Bỏng hóa chất ở mắt

Hóa chất tình cờ văng vào mắt có thể gây ra tổn thương hoặc thậm chí là mù mắt. Trẻ sẽ rất đau mắt, mắt sẽ đỏ lên và chảy nước. Trẻ cũng sẽ thấy khó mở mắt ra được. Bạn không được để trẻ dụi hoặc chạm vào mắt, để tránh hóa chất lan qua chỗ khác trên mặt.

1. Lập tức rửa sạch hóa chất. Giữ đầu bé cúi trên một cái chậu, mắt không bị thương nằm trên và mở vòi nước lạnh dội qua mắt bị đau trong 20 phút. Mang găng tay cao su để tránh dính phải hóa chất. Nếu khó giữ đầu bé cúi trên chậu, hãy lấy bình nước xối qua mắt bé.

2. Khi mắt bé đã rửa kỹ, đắp một miếng khăn sạch.

Sau khi sơ cứu, nhanh chóng chuyển bệnh nhân tới cơ sở y tế gần nhất để được điều trị đúng cách. Khi đến bệnh viện, bệnh nhân sẽ được rửa mắt bằng các dung dịch đặc biệt, nhằm đảm bảo không còn hoá chất kết dư trong mắt.

Khi đưa bệnh nhân tới viện, người nhà cũng nên mang theo chai lọ và nhãn mác dung dịch, hoá chất gây chấn thương đến bệnh viện để bác sĩ nhận biết nhanh được loại hoá chất gây bỏng và có hướng xử trí nhanh nhất.

Bỏng do điện giật:

Bỏng do dòng điện chia thành 2 nhóm: do luồng điện có hiệu điện thế thông dụng (1000V). Sét đánh cũng gây bỏng do luồng điện có hiệu điện thế cao.

Cha mẹ phải cắt ngay nguồn điện, dùng cây gỗ để gạt bỏ dây điện, kéo bé ra xa nguồn điện.

1. Nếu bé bất tỉnh, khai thông đường thở, và chuẩn bị hô hấp nhân tạo theo từng độ tuổi.

2. Làm mát vết bỏng bằng cách giữ vùng bị thương ít nhất 10 phút dưới nước lạnh đang chảy.

3. Đắp lên vết thương bằng vải sạch không đổ lông hoặc một túi nilon sạch, rồi dán yên vị nó.

Lưu ý ngăn ngừa các tai nạn về điện

· Đậy các ổ cắm thật an toàn và kiểm tra dây, thay cầu chì thích hợp.

· Kiểm tra để thay dổ điện bị hư mòn và đảm bảo lõi đồng không bị hở ra ngoài.

· Lắp nắp đậy vào những ổ cắm không dùng nữa.

· Không kéo dây điện ở những nơi trẻ có thể với tới hoặc ngã vào.

· Lắp thiết bị ngắt mạch.

· Hãy dạy trẻ không nên nghịch ngợm hay sờ mó dây điện hoặc các ổ điện…Trẻ Bị Bỏng

Bỏng nắng

Da trẻ rất nhạy cảm với các tia cực tím có hại, và phơi nắng quá nhiều lúc còn nhỏ làm tăng nguy cơ ưng thư da về sau. Bỏng nắng trên vùng rộng có thể nguy hiểm.

1. Đưa bé vào chỗ râm mát hoặc phòng lạnh. Cho bé uống nước mát.

2. Làm dịu những vùng da bị bỏng đỏ bằng thuốc bôi ngoài da calamine hoặc kem thoa sau khi đi nắng.

3. Không để bé tiếp xúc với ánh nắng trực tiếp ít nhất 48 tiếng.

4. Nếu bé bị rộp da hoặc có dấu hiệu say nắng hãy gọi bác sĩ.

Lưu ý:

Hỏi bác sĩ ngay nếu sau khi bị bỏng nắng trẻ bị sốt, da khô, và trông bối rối thẫn thờ. Trẻ có thể bị say nắng, một tình trạng nguy cấp.

Phòng ngừa

· Phòng bệnh hơn trị bệnh; trẻ luôn phải đội nón, mặc áo quần, và bôi kem chống nắng khi ra ngoài nắng.

· Che kín toàn bộ da trẻ để tránh ánh sáng mạnh.

Thoa kem chống nắng lên toàn bộ phần da để trần của cơ thể.

· Cho trẻ mặc quần áo chống tia cực tím khi đi nắng.

· Bôi kem chống nắng lên phần môi và mũi bé và bảo vệ phận gáy bằng một chiếc mũ rộng vành.

· Thoa kem chống nắng lần nữa khi trẻ vừa dưới nước lên nếu cho trẻ đi bơi hay tắm biển dưới trời nắng.

Cách tính diện tích bỏng để xác định mức độ nguy hiểm:

· Phương pháp con số 9: đầu mặt cổ 9%, 1 chi trên 9%, ngực bụng 18%, lưng 18%, 1 chi dưới 18%, bộ phận sinh dục và tầng sinh môn 1%.

· Phương pháp dùng bàn tay ướm (bàn tay người bị bỏng): tương ứng với 1% hoặc 1,25% diện tích cơ thể người đó.

· Phương pháp tính theo con số 1, 3, 6, 9, 18: diện tích khoảng 1%: gan bàn tay (hoặc mu), cổ, gáy, tầng sinh môn – sinh dục ngoài; diện tích khoảng 3%: bàn chân, da mặt, da đầu, cẳng tay, cánh tay, mông (một); diện tích khoảng 6%: cẳng chân, 2 mông; diện tích khoảng 9%: đùi, chi trên; diện tích khoảng 18%: chi dưới, lưng – mông, ngực – bụng.

Lưu ý:

Nếu bé quá đau đớn thì có thể cho bé uống thuốc giảm đau paracetamol (biệt dược Hapacol 150mg, 250mg hoặc Efferalgan 150mg, 250mg) với liều từ 10-15mg/kg trước khi đưa đi. Sau khi sơ cứu trẻ cần được đưa đến ngay bệnh viện để khám và điều trị.

Nếu bé bị bỏng ở miệng và cổ họng, những vết bỏng này đặc biệt nguy hiểm vì nó có thể gây ra sưng phế quản và ngạt thở. Nới lỏng quần áo quanh cổ và lập tức gọi cấp cứu.Trẻ Bị Bỏng

Tuyệt đối không được dùng nước mắm, kem đánh răng,nước muối dưa cà … hoặc các loại thuốc mỡ không dùng chữa bỏng bôi để đắp lên vết bỏng. Việc sơ cứu không đúng cách sẽ khiến tình trạng bỏng nặng thêm gây khó khăn trong điều trị. Khi trẻ bị bỏng cha mẹ hoặc người thân cần bình tĩnh, nhanh chóng, nhẹ nhàng khi sơ cứu tránh trẻ bị sốc.

TRẺ BỊ BỎNG NÊN BÔI THUỐC GÌ?

Đánh giá độ sâu của vết bỏng

Bỏng độ 1:

– Da đỏ lên, không có phỏng nước.

– Chỉ lớp da ở nông nhất bị ảnh hưởng.

– Vết bỏng lành nhanh, không để lại sẹo.

Bỏng độ 1 thường chữa khỏi tại nhà trong 3 – 5 ngày, thường không gây ra phỏng rộp và sẹo.

Bỏng độ 2: Bỏng độ 2 gây tổn thương da do nhiệt, phóng xạ, hoá chất, điện, ma sát. Bỏng này còn gọi là bỏng dày khu trú. Có 2 dạng bỏng độ 2 được xác định bởi độ sâu của bỏng.

Bỏng dày khu trú ở bề mặt gây tổn thương lớp da thứ nhất và thứ 2 và thường gây ra do nước nóng hoặc vật nóng. Da xung quanh vết bỏng trắng khi ấn  rồi trở lại đỏ. Vết bỏng ẩm, đau với vết phỏng rộp và sưng kéo dài ít nhất 48 h.

Bỏng dày sâu: gây tổn thương ở lớp sâu của da, là những vùng trắng xen lẫn đỏ. Chúng thường do tiếp xúc với dầu, mỡ, nước súp, chất lỏng của lò vi sóng nóng. Loại bỏng này không đau, gây nhạy cảm với áp lực. Da lốm đốm, còn trắng khi ấn, có thể xuất hiện giống sáp ở một số khu vực, thường khô, ẩm nhẹ. Khả năng nhiễm trùng thường liên quan đến bỏng loại này.Trẻ Bị Bỏng

Phải mất vài ngày trước khi các triệu chứng hình thành và trở nên rõ ràng khi vết bỏng ở ngoài da hoặc sâu.

Xử lý bỏng độ 2 đa dạng phụ thuộc vào kích thước, độ sâu, tuổi và sức khỏe người bệnh nói chung. Với tất cả các loại bỏng, việc theo dõi, xử lý nhiễm trùng rất quan trọng . Bỏng độ 2 có thể loại bỏ sẹo sau khi chữa khỏi.

Bỏng độ 3: Bỏng nặng nhất gây đau, liên quan đến tất cả các lớp của da. Lớp mỡ, cơ, thậm chí xương có thể bị ảnh hưởng. Các khu vực có thể chấm hồng đen, xuất hiện khô và trắng. Khó hít vào và thở ra, CO gây độc và một số tác động độc khác có thể xảy ra nếu khói hít vào kèm theo bỏng.

– Hủy hoại toàn bộ bề dày của da. Thường không có bóng nước vì lớp trên cùng của da đã bị phá hủy.

– Vùng da bỏng có mầu trắng hoặc cháy sém. Có thể bỏng sâu tới cơ và xương.

– Để lại sẹo kể cả nếu điều trị đúng.

Đưa bé đi khám bác sĩ nếu:

– Bỏng rộng ở một phần cơ thể (bỏng toàn bộ lưng, hoặc ngực và bụng, hoặc bỏng toàn bộ một chi). Bỏng diện rộng rất nguy hiểm vì gây mất nhiều nước và gây đau đớn cho trẻ.

– Bỏng ở mặt.

– Bỏng độ 2 trở lên.

HƯỚNG DẪN CHĂM SÓC VẾT BỎNG

– Bỏng độ 1: Lô hội (aloe vera) là vũ khí rất tốt trong điều trị bỏng nhẹ. Bôi gel lô hội (loại hàm lượng 100%) lên vết bỏng vài lần mỗi ngày. Hoặc lấy lá lô hội cắt từng đoạn rồi xẻ mỏng, áp vào da để nhựa cây tiếp xúc với chỗ bỏng.

– Bỏng độ 2: Việc điều trị phức tạp hơn. Cần tham khảo ý kiến bác sĩ. Sau đây là một số gợi ý:

+ Thực hiện 2 lần mỗi ngày: Tráng vết bỏng bằng nước muối sinh lý. Việc này giúp tẩy rửa vi trùng và phần da chết khỏi bề mặt vết thương.

+ Hong khô vết bỏng: Bôi kem silver sulfadiazine 1% (Silvirin, Silvadene) lên vết bỏng. Loại kem kháng khuẩn này tỏ ra rất hiệu quả trong làm lành vết thương, giúp ngăn ngừa nhiễm trùng. Cần bôi kem bằng dụng cụ vô trùng. Lấy que đè lưỡi vô trùng mua ở hiệu thuốc để bôi một lớp dày kem lên vết bỏng. Cần dùng rất nhiều kem. Trong lần thay băng sau đó, nếu thấy toàn bộ kem bôi lần trước đã thấm vào băng, không còn đọng lại trên bề mặt vết bỏng thì nên hiểu là bạn dùng thuốc chưa đủ.

+ Băng vết bỏng bằng gạc vô trùng. Một nhược điểm của băng gạc thông thường là cho phép tổ chức hạt mới hình thành tại vết thương mọc xuyên qua khe hở của gạc, gây bám dính. Vì vậy, việc thay băng nhiều khi trở nên khó khăn và rất đau đớn đối với trẻ. Cố gắng tháo bỏ băng gạc có thể gây tổn thương da, khiến vết thương lâu lành. Băng tulle gras giúp khắc phục tình trạng này. Đây là một loại băng làm từ vật liệu đặc biệt, được tẩm thuốc, không bám dính vào bề mặt vết thương. Nó giúp duy trì độ ẩm, đẩy nhanh quá trình lành vết thương và giúp việc thay băng trở nên dễ dàng, không đau đớn.Trẻ Bị Bỏng

Hãy đặt một tấm băng tulle gras lên lớp kem, trước khi đắp băng gạc vải. Nếu vết thương tiết dịch nhiều, có thể lót thêm một lớp bông trên lớp gạc vải. Sau đó dùng băng chun băng vùng bị tổn thương. Tính từ trong ra ngoài, cần băng theo thứ tự: kem kháng khuẩn, gạc tull gras, gạc vô trùng, bông và cuối cùng là băng chun.

Kéo căng da để phòng ngừa vết bỏng co rút và hạn chế vận động sau này. Thông thường, khi da bị bỏng, phần da lành xung quanh bắt đầu co cụm lại, o ép vùng da bị bỏng. Nếu vết bỏng nằm ở phần cơ thể thường bị co giãn nhiều (ví dụ da lòng bàn tay và ngón tay), nguy cơ co rút sẽ lớn. Hãy thực hiện các bài tập kéo căng vùng da xung quanh vết bỏng khoảng 10 lần mỗi ngày, mỗi lần một phút. Điều này giúp ngăn ngừa sự co rút vết bỏng gây khó khăn cho vận động sau này.

Khi phần da bị bỏng bong ra, có thể nhìn thấy một lớp da mới màu đỏ nằm ở dưới. Lớp da này sẽ dần chuyển sang màu hồng. Khi này bạn có thể ngừng bôi thuốc và không phải băng vết thương nữa.

Kết hợp uống vitamin (sinh tố)

Vitamin E: uống vitamin E giúp cho vết bỏng chóng lành hơn sau khi liền Da Chờ cho vết bỏng không còn phồng lên nữa mà bắt đầu khô lại với lớp Da non mầu hồng đỏ thì hằng ngày lấy vitamin E trong viên nang bôi lên chỗ Da đó cho đến khi lành hẳn.

Vitamin C: Cần thiết cho sự tạo thành collagen, một chất do cơ thể sản xuất ra để làm Da chỗ bỏng chóng lành hơn.

– Bỏng độ 3: Nhất thiết phải đi khám bác sĩ, không tự điều trị tại nhà.

Chú ý: Bỏng ở trẻ em là bệnh lý hết sức nguy hiểm, có thể gây tử vong. Da của trẻ chưa đạt được độ dày như của người lớn, vì vậy trẻ bị bỏng nhanh hơn. Chỉ cần 5 giây với nước nóng 60 độ có thể khiến bé bị bỏng độ 3.

Chữa vết bỏng bằng đông y

1/ Vỏ xoan chữa bỏng

Vỏ cây xoan chữa được bỏng là cây xoan nhừ, còn gọi là xoan trà, xoan rừng hay lát xoan, ở Sa Pa gọi là cây nếnh, Lạng Sơn gọi cây mắc miễu, miền Nam gọi là cây xuyên cóc.Trẻ Bị Bỏng

Nước sắc đặc của vỏ cây xoan nhừ khi bôi lên vết bỏng tạo ra một màng che phủ mềm mại, bền chắc, không bị rách hoặc nứt, không bị căng và bám chặt hơn so với màng Colodion, Fibrin à làm khô các vết thương bỏng, không bị nhiễm khuẩn tại chỗ, không có mùi hôi thối, làm giảm số lần thay băng, rút ngắn thời gian điều trị. Các vết bỏng rộng thì tự biểu mô hóa dưới lớp màng. Đối với bỏng độ 2: Bỏng trung bì nông thì sau 8-12 ngày màng bắt đầu bong. Đối với các vết thương bỏng trung bì sâu hơn thì sau 10-20 ngày màng mới bong ra.

Bài thuốc chữa bỏng: Vỏ xoan nhừ tươi 6.000 gam, sắc kiệt với nước, cô đặc lại thành cao khoảng 1.000 ml, trung hòa bằng Natricarbonate cho pH = 7 (trung tính) để bôi khỏi xót. Có thể chế thành dạng bột. Rửa sạch vết bỏng, cắt lọc các nốt phồng rộp và thượng bì đã hoại tử, lau cho sạch, thấm khô cho vô khuẩn, rắc bột hoặc bôi cao lên kín vết thương. Không nên dùng cho vết bỏng sâu, vết bỏng đã nhiễm khuẩn xuất tiết nhiều và có mủ.

2/ Chữa bỏng bằng củ nghệ

Nghệ vị cay, đắng, tính ấm, có tác dụng hành khí, chỉ thũng, thông kinh, tiêu mủ, lên da non. Với những trường hợp bỏng nhẹ thông thường, dùng bài thuốc bằng nghệ sau đây:

Bài 1: Lá chè tươi 100 g, nghệ 50 g. Đem lá chè tươi rửa sạch bằng nước đun sôi để nguội rồi vò lấy nước đặc. Củ nghệ rửa sạch, giã nhỏ, vắt lấy nước. Trộn lẫn hai thứ với nhau thành một dung dịch sền sệt. Dùng một tăm bông sạch để chấm thuốc, bôi nhẹ lên chỗ da bị bỏng. Cứ bôi từng lượt như vậy cho đến khi chỗ bỏng hết đau rát. Sau đó lấy vải màn sạch che vết bỏng lại.

Trong những ngày sau, cần bôi thuốc mỗi ngày 2-3 lần. Nếu vết bỏng nhẹ, chỉ sau 2-3 ngày, chỗ bị bỏng sẽ tróc vảy, lên da non. Lấy nước nghệ tươi chấm vào chỗ da non để tránh sẹo.

Bài 2: Nghệ già 1 củ, dầu lạc hay dầu vừng vừa đủ. Nghệ giã nát, nấu với dầu lạc hay dầu vừng, quấy đều. Sau đó cho thuốc vào lọ sạch, dùng dần.Khi bị bỏng, lấy tăm bông sạch quệt thuốc bôi vào chỗ bỏng. Chỗ bỏng sẽ khỏi nhanh và không thành sẹo.

Bỏng ở trẻ em là bệnh lý hết sức nguy hiểm, có thể gây tử vong. Da của trẻ chưa đạt được độ dày như của người lớn, vì vậy trẻ bị bỏng nhanh hơn. Chỉ cần 5 giây với nước nóng 60 độ có thể khiến bé bị bỏng độ 3. Do đó, các mẹ cần phải bình tĩnh sơ cứu vết bỏng đúng cách và đưa trẻ tới các cơ sở kịp thời. Quan trọng nhất vẫn là phòng bệnh hơn chữa bệnh nhé các mẹ.

from Healthyblog https://ift.tt/2UvGPlt

Trẻ Bị Hen Phế Quản, Hen Suyễn, Nguyên Nhân, Cách Điều Trị, Phòng

Trẻ bị hen phế quản, còn gọi là hen suyễn có thể mắc ngay khi trẻ từ 2 – 10 tuổi. Nếu các triệu chứng bệnh không được phát hiện và xử lý sớm, căn bệnh này có thể dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm. Mời các mẹ cùng healthyblog.net theo dõi dấu hiệu nhận biết sớm trẻ bị hen suyễn và cách điều trị nhé.

Định nghĩa: Hen suyễn là bệnh viêm mạn tính đường dẫn khí (phế quản), trong đó giữ vai trò là nhiều tế bào và nhiều thành phần của tế bào.

Viêm mạn tính đi kèm với sự quá nhạy cảm của đường dẫn khí dẫn đến các cơn suyễn tái đi tái lại của các triệu chứng khò khè, khó thở, nặng ngực và ho, đặc biệt xảy ra vào ban đêm hay sáng sớm. Các cơn suyễn đi kèm với việc lan rộng – nhưng rất thay đổi – của sự tắc nghẽn đường dẫn khí bên trong phổi mà thường là hồi phục tự nhiên hay do điều trị.Hen Phế Quản

Dấu hiệu nhận biết bệnh hen suyễn, hen phế quản ở trẻ nhỏ

Hen khởi phát do vận động: xảy ra khi trẻ leo cầu thang, chạy nhảy, cười đùa nhiều, tập thể dục. Khi đó, trẻ cần nhiều oxy hơn nên sẽ thở nhanh qua miệng, đường thở phản ứng lại với không khí khô lạnh, bằng cách co thắt các cơ bao quanh phế quản, làm hẹp đường thở.

Những triệu chứng hay gặp là: Khò khè, ho, cảm giác nặng ngực, khó thở. Các triệu chứng này có thể xuất hiện sau khi vận động và đạt đỉnh điểm ở khoảng 5-10 phút sau khi ngưng vận động; sau đó chúng sẽ giảm dần sau khoảng 20 – 30 phút mà không cần sử dụng đến thuốc cắt cơn hen. Nên lưu ý về loại hình vận động, thời gian và cường độ tập luyện… phù hợp với tình trạng sức khỏe và thể chất của trẻ.

Hen dị ứng: chủ yếu xảy ra do trẻ tiếp xúc với các tác nhân gây dị ứng như bọ mạt, phấn hoa, hóa chất, hoặc một số thức ăn dễ gây kích hoạt cơn hen như bò, gà, trứng gia cầm, tôm, cua, cá biển….. Cách để kiểm soát cơn hen này chủ yếu là hạn chế cho trẻ tiếp xúc với tác nhân nào khiến trẻ dễ bị dị. Hãy cho con kiểm tra sức khỏe, xét nghiệm máu để xem mức dị ứng thế nào.

Cha mẹ có thể nghi ngờ trẻ bị hen chứ không phải ho bình thường, nếu thấy con em mình có xuất hiện một số triệu chứng cụ thể như sau:

  • Ho dai dẳng: Khác với ho thông thường, ho do hen suyễn có thể tự khỏi nhưng có thể nặng thêm trong các điều kiện nhất định như ho nặng hơn vào ban đêm, trong giấc ngủ hoặc trước khi rạng sáng. Đôi khi ho dẫn đến ói mửa
  • Thở khò khè.
  • Thở gắng sức.
  • Nặng hơn vào ban đêm hoặc trước khi rạng sáng
  • Nặng ngực ở trẻ lớn. Ở trẻ nhỏ, đôi khi, chỉ biểu hiện duy nhất bằng những cơn ho giống như ho gà, nhưng lúc hít vào không thấy ồn ào, thỉnh thoảng lẫn lộn giữa cơn ho có tiếng rít.

Hen trẻ em cũng có thể biểu hiện dưới dạng viêm phế quản khó thở. Khi khó thở và ho nhiều dịch tiết ra, không giống như hen kinh điển ở người lớn, cơn hen ở trẻ em bắt đầu và kết thúc không đột ngột.

Nhận biết các mức độ của bệnh hen phế quản, hen suyễn

Mức độ 1 (có cơn hen ngắt quãng nhẹ): thỉnh thoảng mới xảy ra và các triệu chứng thường xảy ra vào ban ngày dưới 1 tuần/lần, trẻ vẫn hoạt động bình thường.

Mức độ 2 (cơn hen dai dẳng nhẹ): xảy ra ở cấp độ nhẹ, triệu chứng hen xuất hiện ban ngày dưới 1 tuần/lần.

Mức độ 3 (cơn hen dai dẳng trung bình): các triệu chứng xảy ra hàng ngày, cơn hen gây ảnh hưởng đến các hoạt động của trẻ.

Mức độ 4 (cơn hen dai dẳng nặng): các triệu chứng xảy ra thường xuyên và kéo dài, hạn chế các hoạt động thể lực của trẻ và thường xuất hiện cơn hen vào ban đêm.

Những trường hợp hen ác tính, các cơn hen liên tiếp xảy ra hàng ngày, thường nặng hơn về chiều và đêm. Trẻ bị mắc bệnh hen thường khó thở, không sốt, không lây. Bệnh hen tiến triển rất thất thường; một số trường hợp ổn định sau khi trẻ trên 5 – 6 tuổi, nhưng một số khác sau 15 năm bị hen lại, thậm chí sau 20 – 30 năm. Nếu bệnh được phát hiện sớm và được điều trị dự phòng hiệu quả thì sẽ làm giảm đáng kể tần suất hen khi lớn, nhất là các thể hen nặng.

Tiến sĩ Emma Nurhema SpA, một bác sĩ nhi khoa của Bệnh viện Hữu nghị ở Jakarta cho biết.

Các triệu chứng của bệnh hen suyễn ở trẻ em cũng không hẳn sẽ diễn ra ở tuổi trưởng thành. Theo tiến sĩ Emma, 80% các triệu chứng hen suyễn ở trẻ em sẽ giảm dần khi bước vào tuổi thiếu niên và có thể dừng lại hoàn toàn mặc dù đôi khi có thể tái phát một lần nữa nếu có các yếu tố kích thích bệnh tái phát.Hen Phế Quản

Biến chứng của bệnh hen phế quản bội nhiễm

Suy hô hấp

Là tình trạng cơ thể không được cung cấp đủ oxy để duy trì sự sống của các cơ quan và các tổ chức mô cấu trúc nên cơ thể. Bệnh thường gặp ở những người mắc hen ác tính hoặc hen cấp tính, với biểu hiện khó thở, thở nhanh, đôi khi ngừng thở, phải dùng máy hỗ trợ thở, tím tái liên tục. Suy hô hấp là một trong những nguyên nhân gây tử vong của bệnh hen.

Ngừng hô hấp kèm theo tổn thương não

Tình trạng suy hô hấp kéo dài khiến não thiếu oxy, trong các thể hen nặng, có lúc ngừng hô hấp hay tim ngừng đập. Những trường hợp này bệnh nhân thường lên cơn ngạt thở đột ngột, làm tăng CO2 trong máu, dẫn đến hôn mê và tử vong.

Xẹp phổi

Một biến chứng nữa của bệnh hen phế quản bội nhiễm là xẹp phổi. Đây là tình trạng giảm hoặc mất sự giãn nở không hoàn toàn của nhu mô phổi do quá trình xẹp phế nang khu trú hoặc lan tỏa, làm mất thể tích phổi. Chức năng thông khí, trao đổi khí vùng phổi xẹp bị ảnh hưởng do lưu lượng khí qua vùng phổi xẹp rất nhỏ. Hơn 1/3 trẻ em gặp biến chứng xẹp phổi khi mắc bệnh hen suyễn. Khi hen ổn định thì tình trạng này sẽ khỏi.

Tràn khí màng phổi

Lúc này các phế nang giãn rộng, tại những vùng phế nang giãn mạch máu thưa thớt, áp lực trong phế nang tăng mạnh. Khi người bệnh ho mạnh hay hoạt động quá sức, các thành phế nang dễ bị bục vỡ. Tràn khí mang phổi hai bên là nguyên nhân gây tử vong ở người hen suyễn. Bệnh tràn khí màng phổi thường gặp ở khoảng 5% hen mãn tính.

Viêm phế quản

Bệnh thường có những biểu hiện như sốt, khó thở tăng, đờm nhiều, thường có màu vàng hoặc xanh do nhiễm khuẩn, xét nghiệm đờm thấy bạch cầu thoái hóa và tạp khuẩn. Xét nghiệm máu người bệnh thấy bạch cầu đa nhân trung tính tăng. Bệnh thường xuất hiện vào thời điểm giao mùa nóng – lạnh, nhiệt độ thay đổi đột ngột, độ ẩm không khí cao tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn và vi rút sinh sôi, gây ra các đợt cúm, viêm nhiễm đường hô hấp và vùng tai – mũi – họng làm cho bệnh hen suyễn biến chứng nặng hơn.

Khí phế thũng

Khí phế thũng hay còn gọi là bệnh giãn phế nang, là tình trạng mà vách các phế nang trong phổi mất tính co giãn, các phế nang trở nên yếu và dễ vỡ, gây ra sự tắc nghẽn đường dẫn khí. Tính đàn hồi của mô phổi mất đi làm cho không khí bị bắt giữ trong phế nang, làm giảm khả năng trao đổi oxy và CO2 khiến bệnh nhân khó thở khi gắng sức, thở ra ít, môi và các đầu chi tím tái, ho khạc đờm nhiều.

Tâm phế mãn tính

Là trường hợp phì đại và giãn tâm thất phải thứ phát do tăng áp lực động mạch phổi. Đây là biến chứng thường gặp ở bệnh nhân mắc hen thể nặng. Triệu chứng điển hình là thở gắng sức, tím tái, gan có thể to hoặc mấp mé bờ sườn, đau vùng hạ sườn phải. Thời gian biến chứng thành bệnh tâm phế mãn tính ở người mắc hen phế quản khác nhau, có thể kéo dài 5, 10 năm hoặc lâu hơn.

Chẩn đoán phân biệt hen phế quản

Cần chẩn đoán phân biệt hen phế quản với các bệnh lý có khò khè. Ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ dưới 2 tuổi, đợt khò khè đầu tiên thường xảy ra trong mùa dịch virus hợp bào hô hấp (RSV) và viêm tiểu phế quản cấp thường là nguyên nhân của đợt khò khè này. Ở trẻ lớn hơn và những trẻ có những đợt khò khè tái diễn thì hen phế quản và các bệnh lý tăng đáp ứng đường thở (reactive airways disease) là những nguyên nhân quan trọng nhất gây khò khè.Hen Phế Quản

Một số bệnh lý có khò khè cần được chẩn đoán phân biệt với hen phế quản :

Viêm tiểu phế quản cấp

Khò khè xuất hiện lần đầu trong mùa dịch RSV.

Thường gặp ở trẻ < 2 tuổi.

Ngực căng phồng và gõ trong.

Rút lõm lồng ngực.

Nghe phổi có thể có ran nổ mịn hoặc ran rít.

Ăn, bú mẹ hoặc uống kém do khó thở.

Khò khè không đáp ứng với thuốc giãn phế quản.

Khò khè kèm với ho hoặc cảm lạnh

Hầu hết các đợt khò khè đầu tiên ở trẻ < 2 tuổi đều có liên quan với ho hoặc cảm lạnh.

Trẻ không có tiền sử dị ứng trong gia đình (chàm, viêm mũi dị ứng…). Các đợt khò khè thưa hơn khi trẻ lớn lên.

Khò khè thường đáp ứng tốt với Salbutamol uống tại nhà.

Một số nhiễm khuẩn hô hấp

Như viêm phổi do virus hoặc viêm phổi do Mycoplasma có thể kèm theo khò khè.

Dị vật đường thở

Hạch bạch huyết chèn ép vào phế quản

Hạch lao, u lympho và các khối u hạch bạch huyết khác.

Giải pháp cấp cứu kịp thời khi trẻ lên cơn hen suyễn

Khi trẻ lên cơn hen cấp thì đưa trẻ ra chỗ thoáng, không khí trong lành; cho uống nhiều nước hoặc hít hơi nước làm đờm loãng ra sẽ dễ thở. Nếu trẻ lên cơn hen nhẹ, dùng các thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh như: Ventolin, Atrovent, Bricanyl,… Các loại thuốc này có thể dùng ở dạng khí dung, bình xịt định liều, thuốc dạng viên hoặc siro. Liều lượng thuốc dùng tùy theo lứa tuổi và cân nặng của trẻ, nhưng phải theo sự hướng dẫn của bác sĩ.Nếu cơn hen nặng phải đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay.

Bệnh hen phải chữa trị lâu dài, các cơn hen không giống nhau, có thể một năm xảy ra đôi lần, nhưng cũng có thể xảy ra nhiều lần trong một tháng, ảnh hưởng tới việc học hành và cuộc sống lâu dài của trẻ.

Phương pháp điều trị và thuốc cho trẻ bị bệnh hen phế quản, hen suyễn

Hen Phế Quản

Nếu trẻ bị khò khè lần đầu và không khó thở thì chỉ cần chăm sóc tại nhà, không cần thuốc giãn phế quản.

Nếu trẻ có khó thở và khò khè tái diễn thì cho Salbutamol dưới dạng phun sương (nebulizer) hoặc bình hít có liều định sẵn (metered-dose inhaler = MDI). Nếu không có Salbutamol thì cho Epinephrine tiêm dưới da. Đánh giá lại trẻ sau 30 phút để quyết định bước điều trị tiếp theo:

Nếu trẻ hết khó thở và không còn thở nhanh : khuyên bà mẹ chăm sóc và về nhà điều trị với Salbutamol uống (si-rô hoặc viên).

Nếu trẻ còn khó thở: cho trẻ nhập viện và điều trị với thở oxy, các thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh và những thuốc khác được trình bày ở phần sau.

Nếu trẻ có tím trung tâm hoặc không uống được: Cho trẻ nhập viện và điều trị với thở oxy, các thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh và những thuốc khác được trình bày ở phần sau.

Khi trẻ nhập viện, cần cho thở oxy ngay, cho một thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh và một liều steroids (uống hoặc tiêm tĩnh mạch). Nên đánh giá đáp ứng với điều trị trong 30 phút bằng các dấu hiện như đỡ khó thở, và thông khi phế nang cải thiện khi nghe phổi. Nếu không cải thiện thì tiếp tục cho thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh với khoảng cách có thể 1 giờ 1 lần. Sau khi đã cho 3 liều thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh mà trẻ vẫn không đáp ứng thì cho thêm Aminophylline tiêm tĩnh mạch.

Thở oxy

Cho thở oxy 1-2 lít/phút đối với những bệnh nhân hen phế quản có khó thở. Nên cho thở oxy qua ống thông có 2 nhánh vào 2 mũi (nasal prongs) (đây là phương pháp tốt nhất cho trẻ nhũ nhi) hoặc qua ống thông mũi. Ngoài ra có thể cho thở oxy qua ống thông mũi họng. Cần cho thở oxy cho đến khi nào trẻ không còn dấu hiệu thiếu khí nữa. Y tá nên kiểm tra mỗi 3 giờ xem thử các ống thông có đặt đúng vị trí không, hoặc có bị tắc bởi chất nhầy không và các chổ nối có đảm bảo không.

Thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh

Cho 1 trong 3 loại thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh sau:

Salbutamol khí dung: Nguồn khí truyền cho máy phun sương phải truyền được 6-9 L/phút, thường là máy nén khí hoặc bình oxy. Nếu không có, có thể dùng bơm đạp chân. Liều Salbutamol: 2,5 mg (ví dụ 0,5 ml dung dịch 5 mg/ml) pha với 2-4 ml nước muối sinh lý. Liều này có thể cho mỗi 4 giờ, rồi giảm xuống mỗi 6-8 giờ khi trẻ cải thiện. Trong trường hợp nặng, nếu cần có thể cho mỗi 1 giờ.

Salbutamol liều định sẵn (MDI) với bầu hít (spacer device): Bầu hít thể tích 750 ml hiện có bán trên thị trường. Xịt 2 cái (200 mcg) vào bầu hít, đợi cho trẻ thở bình thường 3-5 lần rồi mới nhấc bầu hít ra. Liều này có thể lập lại mỗi 4 giờ, sau đó giảm xuống mỗi 6-8 giờ khi trẻ cải thiện. Trong trường hợp nặng, nếu cần có thể cho mỗi 1 giờ. Đối với trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ, để trẻ hợp tác tốt hơn với điều trị, cần gắn mặt nạ với bầu hít. Nếu không có bầu hít chuẩn, có thể sử dụng bầu hít tự tạo bằng chai nước nhựa loại 1 lít, khi đó phải xịt 3-4 cái và để cho bệnh nhân thở trong 30 giây rồi mới nhấc bầu hít ra.

Epinephrine (adrenaline) tiêm dưới da: Nếu không có Salbutamol khí dung hoặc Salbutamol liều định sẵn, thì tiêm dưới da 0,01 ml/kg Epinephrine (adrenaline) loại 1:1000 (tối đa 0,3 ml). Nên sử dụng loại bơm tiêm 1ml để đo chính xác liều lượng thuốc. Sau 20 phút, nếu không cải thiện, có thể lập lại một lần nữa.

Thuốc giãn phế quản uống

Khi  trẻ đã cải thiện và có  thể ra viện, nếu không có Salbutamol  dạng hít, có thể cho Salbutamol dạng viên hoặc xi-rô. Liều lượng Salbutamol uống:

Trẻ từ 2-12 tháng                 : 1 mg mỗi 6-8 giờ.

Trẻ từ 12 tháng-5 tuổi          : 2 mg mỗi 6-8 giờ.

Steroids

Nếu trẻ bị cơn khò khè cấp tính nặng và trong tiền sử đã có khò khè tái diễn nhiều lần thì cho Prednisolone uống với liều 1 mg/kg 1 lần/ngày trong 3 ngày. Nếu trẻ vẫn còn nặng thì tiếp tục điều trị cho đến khi cải thiện. Thông thường không cần dùng steroids trong đợt khò khè đầu tiên.Hen Phế Quản

Aminophylline

Nếu trẻ vẫn không cải thiện sau khi đã cho 3 liều thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh kết hợp với prednisolone uống thì cho Aminophylline tiêm tĩnh mạch với liều khởi đầu 5-6 mg/kg (tối đa là 300 mg), sau đó duy trì liều 5 mg/kg mỗi 6 giờ. Cần phải cân trẻ cẩn thận và mỗi liều thuốc phải được tiêm tĩnh mạch chậm trong ít nhất 20 phút hay tốt nhất là trong 1 giờ. Aminophylline tiêm tĩnh mạch có thể nguy hiểm khi cho quá liều hoặc tiêm quá nhanh. Nếu bệnh nhi đã được dùng bất kỳ dạng Aminophylline nào (ví dụ Theophylline) trong vòng 24 giờ trước đó thì hãy bỏ qua liều khởi đầu. Cần phải ngưng thuốc ngay lập tức nếu trẻ bắt đầu nôn, mạch > 180 lần/phút, nhức đầu hoặc co giật. Nếu không có Aminophylline tiêm tĩnh mạch thì có thể sử dụng Aminophylline dạng đặt hậu môn.

Kháng sinh

Không nên cho kháng sinh một cách thường qui đối với những trẻ bị hen phế quản có thở nhanh nhưng không có sốt. Chỉ cho kháng sinh khi trẻ bị sốt kéo dài và có các dấu hiệu khác của viêm phổi.

Chăm sóc

Bảo đảm cung cấp đầy đủ dịch cho nhu cầu hàng ngày của bệnh nhi. Lượng dịch này được tính theo tuổi của trẻ. Khuyến khích bà mẹ cho trẻ bú mẹ nhiều và uống nhiều nước cũng như cho ăn đầy đủ thức ăn bổ sung ngay khi trẻ ăn được.

Theo dõi

Khi nhập viện, trẻ cần được y tá theo dõi và đánh giá mỗi 3 giờ, hoặc mỗi 6 giờ khi trẻ đã cải thiện (ví dụ như tần số thở giảm, đỡ rút lõm lồng ngực và đỡ khó thở) và phải được bác sĩ theo dõi ít nhất 1 ngày 1 lần. Cần theo dõi tần số thở và đặc biệt là các dấu hiệu của suy hô hấp. Nếu kém đáp ứng với điều trị thì cho Salbutamol thường xuyên hơn, có thể mỗi 60 phút. Nếu vẫn không hiệu quả thì cho Aminophylline.

Biến chứng

Nếu trẻ không đáp ứng với các điều trị ở trên hoặc tình trạng trẻ đột ngột xấu đi, cần cho chụp X-quang phổi để tìm dấu hiệu tràn khí màng phổi. Tràn khí màng phổi có chèn ép biểu hiện bằng suy hô hấp nặng và trung thất bị đẩy qua phía bên kia. Lúc này cần dẫn lưu khi màng phổi ngay cho đến khi không còn khí thoát ra và nhu mô phổi trở lại bình thường.

Xem thêm: Hướng dẫn dùng thuốc hen suyễn

Chế độ ăn uống, kiêng kị cho người bị Hen phế quản

Hen phế quản có liên quan đến các yếu tố gây dị ứng ở môi trường như khói, bụi, sơn, phấn hoa, thức ăn… Do đó, ngoài việc phòng tránh những yếu tố có thể gây dị ứng, luyện tập để nâng cao ngưỡng chịu đựng của cơ thể thì chế độ ăn uống cũng có ý nghĩa rất lớn đối với việc kiểm soát bệnh. Cơ chế gây ra bệnh hen suyễn cho đến nay vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ và rất phức tạp, không phải bất cứ trường hợp hen suyễn nào cũng do nguyên nhân từ bên ngoài gây ra, tức nguyên nhân ngoại sinh như thời tiết, phấn hoa, bụi, khói thuốc lá, ô nhiễm môi trường…mà còn có những cơn hen do chính yếu tố bên trong cơ thể gây ra như stress, bệnh dạ dày, ruột,…

Tuy nhiên, phần lớn hen suyễn thường khởi phát do các yếu tố dị ứng với chất lạ như dị ứng theo mùa, bụi bặm, nấm mốc và phấn hoa… Nếu bạn chắc chắn biết được yếu tố nào gây bất lợi làm bùng phát những cơn suyễn của mình thì càng hạn chế tiếp xúc với yếu tố đó càng tốt. Ví dụ như khói thuốc lá, mùi nồng từ thuốc trừ sâu, mùi keo xịt tóc, mùi sơn, các loại dầu thơm…

Các loại thực phẩm không nên dùng: thường xuyên là những thức ăn có nhiều gia vị thường thấy ở các món salad, các loại uống giải khát và thực phẩm đóng hộp, thức uống lên men, rau cải ngâm dấm hoặc làm dưa chua, các loại trái cây khô đóng gói, chế biến sẵn hay một số đồ ăn biển (tôm, cua, ghẹ, mắm nêm). Tất nhiên không phải mọi thực phẩm trên đều cần phải kiêng mà bạn nên theo dõi xem mình thường dị ứng với loại thực phẩm nào, khi ăn thức ăn nào thì hay bị lên cơn suyễn để phòng ngừa và cách ly. Ngoài ra cần cảnh giác ngay với chính một số thuốc chữa bệnh như kháng sinh, thuốc Aspirin…

Nên kiêng cữ: những thức ăn có thể gây dị ứng đối với cơ địa riêng của mỗi người. Cần ăn nhiều thức ăn có chứa vitamin C, magnesium và những acid béo Omega 3. Người ta nhận thấy việc thiếu vitamin C phối hợp với điều kiện không khí ô nhiểm làm gia tăng những trường hợp bệnh suyển, đặc biệt là đối với trẻ em.

Một số nghiên cứu thấy ở những người bệnh suyển, lượng vitamin C trong cơ thể thường ít hơn 50% so với những người bình thường. Vitamin C tự nhiên có nhiều trong các loại rau quả như cà chua, cà rốt và rau xanh như rau dền, rau diếp … Rau quả xanh cũng có nhiều magnesium. Magnesium có tính năng cải thiện hoạt động của phổi qua tác dụng làm giãn các lớp cơ bao quanh khí quản. Ngoài ra các nhà khoa học cũng khuyên người bệnh nên ăn nhiều thực phẩm có chứa những acid béo Omega 3 như các loại cá, các loại quả hạch, mè, hạt hướng dương, dầu cá thu, dầu lanh… Ngoài việc tăng cường sức miển dịch và một số lợi ích khác, những loại acid béo Omega 3 là một yếu tố chống viêm tự nhiên rất hữu ích cho những người có cơ địa dị ứng để ngăn chặn cơn hen và cải thiện chức năng hô hấp.

Dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh bị hen suyễn

Với trẻ có nguy cơ cao, người mẹ từ khi có thai, cho con bú phải kiêng những thức ăn gây dị ứng. Cho trẻ thời gian tập thử những loại thức ăn có nguy cơ dị ứng. Trẻ cần ăn ít muối, hạn chế uống coca, thức ăn chiên bằng dầu cũ.

Hen suyễn là bệnh viêm mãn tính của đường thở. Khi lên cơn suyễn, đường thở sẽ phù nề, tăng tiết đàm và co thắt lại làm cho trẻ khò khè, khó thở. Bệnh liên quan tới các yếu tố dị ứng như bụi, thức ăn, thuốc, thời tiết.Hen Phế Quản

Theo bác sĩ Nguyễn Thị Hoa, trưởng khoa Dinh dưỡng Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP HCM) hen suyễn là bệnh mãn tính, lâu dài, vì thế cần phải chú ý tới việc nuôi dưỡng trẻ. Trong quá trình điều trị phải dùng nhiều loại thuốc có thể dẫn tới nguy cơ loãng xương, chậm phát triển chiều cao, do đó, một chế độ ăn hợp lý là rất cần thiết cho sự phát triển thể chất, trí tuệ của trẻ.

Một vấn đề mà nhiều bà mẹ quan tâm là trẻ khi bị hen suyễn cần phải kiêng thức ăn nào và nên ăn gì để khỏe mạnh. Bác sĩ Hoa đưa ra lời khuyên, lúc trẻ không bị bệnh, cần cho trẻ ăn theo lứa tuổi như trẻ bình thường nhưng hạn chế thực phẩm dễ gây dị ứng.

Những thức ăn dễ gây dị ứng bao gồm sữa, trứng, các loại hạt như đậu phộng, đậu nành, hải sản, lúa mì, rượu đỏ… Ngoài ra cũng cần tránh các thức ăn sinh lưu huỳnh như nước coca, tránh thức ăn chiên bằng dầu cũ, chiên đi chiên lại nhiều lần. Trẻ cũng cần được cho ăn ít muối.

Với trẻ nhỏ hơn 6 tháng tuổi, sữa mẹ là thức ăn tốt nhất. Nếu sữa mẹ không cung cấp đủ, nên bổ sung thêm sữa thủy phân một phần để giảm nguy cơ dị ứng với đạm sữa bò ở trẻ. Giai đoạn này cần cung cấp đủ 150ml sữa/ ngày/ 1 kg cân nặng của trẻ. Trẻ cần ăn đầy đủ 4 nhóm chất bột đường, chất đạm, chất béo, nhóm trái cây và rau. Đặc biệt trẻ cần ăn đủ đạm, đạm quý để bù lại lượng đạm đã mất do dùng thuốc. Chú ý bổ sung thêm vitamin D, vitamin C, canxi, sắt cho trẻ.

Khi trẻ đang lên cơn suyễn, không cho trẻ ăn để tránh bị sặc. Ngoài cơn suyễn, cần cho trẻ uống nhiều nước để làm lỏng đàm. Cần cho trẻ ăn ít để tránh trào ngược dạ dày thực quản. Thay vào đó, nên cho trẻ ăn nhiều bữa trong ngày để đảm bảo trẻ không suy dinh dưỡng. Đồng thời, khi trẻ mắc bệnh, nên ăn chất béo vừa phải.

Bác sĩ Hoa lưu ý, với những trẻ có tiền sử dị ứng của gia đình, có ông bà, bố mẹ, anh chị em, người thân bị bệnh dị ứng như mề đay, viêm mũi dị ứng, suyễn, chàm…, cần nghĩ đến nguy cơ dị ứng và chú trọng hơn đến chế độ dinh dưỡng cho trẻ ngay từ đầu.

Với trẻ có nguy cơ dị ứng cao thì người mẹ ngay từ khi có thai và cho con bú phải kiêng ăn những thức ăn gây dị ứng. Vẫn cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng, chỉ cho trẻ bú bình và ăn trứng khi trẻ trên 12 tháng.

Chưa chắc bé dị ứng với tất cả các loại thực phẩm dễ gây dị ứng, vì thế cần cho bé thời gian tập ăn thử từng loại. Khi ăn thức ăn mới, cần phải bắt đầu thử dần dần một ít. Nếu ăn 2 ngày trẻ không có biểu hiện dị ứng thì ăn tiếp. Cứ thế nên duy trì thử trong vòng 1 tuần để có kết quả và nên đánh dấu vào một cuốn sổ riêng là loại thức ăn mới này trẻ có ăn được hay không.

Bác sĩ Hoa khuyến cáo, trong quá trình thử thức ăn, không cho trẻ ăn một lúc nhiều loại thức ăn mới vì như vậy sẽ không biết bé thích ứng hay dị ứng với thức ăn nào. Khi thức ăn không phù hợp với trẻ, cần chú ý tìm loại thực phẩm thay thế phù hợp, tương ứng theo các nhóm chất để bé vẫn được đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng.

Với những trẻ ít có nguy cơ dị ứng, cần cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, không cho trẻ ăn dặm trước 6 tháng và không nên để trẻ bị béo phì. Thông thường, béo phì thường làm đường thở của trẻ bị hẹp, dễ co thắt.

Phòng bệnh hen phế quản ở trẻ nhỏ

Ho, khó thở, nặng ngực tái đi tái lại nhiều lần,hay gặp về đêm khuya, nửa đêm về sáng. Do phế quản tăng tiết dịch nhầy và co thắt các cơ phế quản nên rất khó thở, đặc biệt khó thở ra. Khó thở tạo thành tiếng rít, như tiếng cò cử, không cần ống nghe của bác sĩ, người bệnh và người bên cạnh tự nghe thấy tiếng rít khó thở này. Cơn khó thở tùy nặng nhẹ có thể từ 5-10 phút cho đến hàng giờ.

Sau đó tự lui dần với cơn ho, khạc đờm trong đặc quánh. Đây vừa là triệu chứng vừa là tất cả phiền toái của bệnh cần điều trị, nên chữa HPQ thực chất là chữa cơn khó thở. Hiếm gặp hơn là cơn hen ác tính khó thở trầm trọng, có khi ngừng thở, tím tái, hạ huyết áp dẫn đến tử vong.

Hen Phế Quản

bệnh hen phế quản

Vì lý do nêu trên, chữa bệnh hen phế quản nhằm vào điều trị cắt cơn hen, dự phòng cơn hen và điều trị dự phòng để các cơn hen càng thưa ra càng tốt. Người bệnh bị HPQ đã quá quen với các thuốc cắt cơn hen, các loại thuốc xịt, thuốc dạng hít đã được bác sĩ chỉ định cho nhiều lần nên vấn đề cắt cơn hen không khó khăn đến mức phải vào viện như hồi xưa, nhưng cần chú ý là luôn luôn mang theo thuốc bên người trong mọi hoàn cảnh để không bị động.

Nếu để lên cơn hen rồi mới lo chạy đi mua thuốc thì rất nguy hiểm cho bệnh nhân. Định kỳ 6 tháng đến 1 năm vẫn phải đi khám chuyên khoa hô hấp với thầy thuốc quen chữa cho mình để được đánh giá, điều chỉnh lại loại thuốc và liều dùng nhằm chủ động kiểm soát được cơn khó thở.

Điều trị dự phòng cơn hen là mục tiêu chính mà cả thầy thuốc và người bệnh ao ước nhất vì không có gì sung sướng hơn khi đỡ được những cơn hen như đè ngực bóp cổ, gây hốt hoảng tột độ. Dự phòng lâu dài bằng thuốc nên có chỉ định của bác sĩ dùng các loại thuốc dạng hít và thuốc xịt, khí dung vì ít gây tác dụng phụ kết hợp thuốc chống viêm loại corticoid. Cũng theo định kỳ khám lại để điều chỉnh thuốc men cho phù hợp.

Nhưng dự phòng tốt nhất là điều chỉnh lối sống, thói quen sinh hoạt và phòng tránh những yếu tố bất lợi. Tuy chưa có thống kê đầy đủ, nhưng một điều nhiều người biết và đã thực hiện có kết quả rất tốt là thay đổi khí hậu vùng miền. Những người ở phía bắc chuyển vào nam hoặc ngược lại từ nam ra bắc sẽ dần dần giảm đến hết hẳn cơn hen. Ngoài ra, các cách dự phòng dễ hiểu dễ làm là:

Tránh xa các dị nguyên gây dị ứng như thức ăn gây dị ứng, phấn hoa có mật độ cao trong mùa hoa nở rộ, các loại bụi khói, khói thuốc lá, lông chó mèo và các loại sợi bông, sợi nhân tạo của chăn, đệm, thảm trải nhà.

Cũng nên tránh những stress để khỏi bị những cảm xúc bất lợi dẫn đến cơn khó thở.

Điều cuối cùng, rất hữu hiệu nhưng đòi hỏi sự kiên trì rèn luyện là tập thở. Có thể tham gia các câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời để có bạn cùng giúp nhau kiên trì tập thở. Động tác tập thở cũng đơn giản nhưng cũng phải kiên trì: tập thở bụng, dùng co giãn của cơ hoành để hít vào được sâu nhất, nhiều oxy nhất và khi thở ra tống được hết khí cặn ra ngoài. Mỗi ngày dành ra 2 – 3 lần, mỗi lần 20-30 phút tập thở ở nơi thoáng khí, yên tĩnh, thế là “thiền”, là phòng được bệnh và cải thiện được sức khỏe.

from Healthyblog https://ift.tt/376kuxq

Trẻ Bị Viêm Phế Quản, Nguyên Nhân, Cách Phòng, Điều Trị, Chăm Sóc

Bệnh viêm phế quản rất hay gặp ở trẻ em, nhất là trẻ dưới 1 tuổi. Những trẻ đang mắc một bệnh nhiễm khuẩn khác như cúm, sởi, ho gà… cũng rất dễ bị viêm phế quản. Những trẻ đẻ non, còi xương, suy dinh dưỡng cũng dễ mắc và thường diễn tiến nặng đến viêm phổi. Đây là một bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong rất cao ở trẻ em, đứng hàng thứ 2 sau bệnh tiêu chảy. Mời các bậc phụ huynh theo dõi thông tin sau để tìm hiểu nguyên nhân, cách chăm sóc trẻ bị viêm phế quản phổi nhé.

Viêm phế quản là một bệnh hay gặp , một bệnh lý của đường hô hấp trong đó niêm mạc của các phế quản trong phổi bị viêm. Niêm mạc phế quản bị kích thích sẽ phồng và dầy lên và làm hẹp hoặc tắc nghẽn các tiểu phế quản, sẽ gây ra ho và có thể kèm theo đờm (đàm) đặc.

Viêm phế quản được chia là hai loại Cấp tính và Mạn tínhViêm Phế Quản

Nguyên nhân gây bệnh viêm phế quản

Viêm phế quản cấp tính: Tác nhân gây bệnh ban đầu thường là virus, sau đó có thể bị bội nhiễm vi khuẩn. Vi khuẩn hay gặp nhất là phế cầu khuẩn, H. influenzae rồi đến tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn… Những vi khuẩn này thường xuyên có ở mũi – họng, khi sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút thì chúng hoạt động mạnh lên, tăng độc tính và gây bệnh. Thời tiết thay đổi đột ngột từ nóng sang lạnh, môi trường ô nhiễm là những nhân tố thuận lợi cho bệnh phát sinh.

Virus là nguyên nhân chính gây nên bệnh giai đoạn đầu, thường thấy ở trẻ sau khi bị viêm hô hấp trên, cảm lạnh, ho, sổ mũi, cúm hay viêm xoang. Sau đó nếu không được điều trị và sức đề kháng yếu thì virus có thể lây lan tới hai cuống phổi (bộ phận nối họng và hai lá phổi với nhau), làm khí quản sưng phồng, tấy đỏ, tiết dịch nhầy trong phổi, gây kích thích trẻ sẽ ho nhiều và thở mệt do đường thở bị viêm và tiết dịch. Nếu trẻ có những biểu hiện trên cùng sốt kéo dài vài ngày hay ho kéo dài từ 2 – 3 tuần, có thể đã bị viêm phế quản.Sau đó, trẻ bắt đầu ho nhiều hơn, đau rát cổ họng và xuất hiện đàm đục, màu vàng hay xanh. Ngoài ra, trẻ có thể có cảm giác đau ngực, mệt mỏi, chán ăn hoặc nôn ói.

Viêm phế quản mạn tính: Thường do một hoặc nhiều yếu tố. Nhiều đợt viêm phế quản cấp lặp đi lặp lại theo thời gian sẽ làm suy yếu và gây kích thích ở phế quản, và có thể gây nên viêm phế quản mạn tính. Ô nhiễm công nghiệp cũng là một thủ phạm. viêm phế quản mạn tính thường gặp ở những người khai thác than, tiếp xúc thường xuyên với ngũ cốc, làm khuôn đúc kim loại, tiếp xúc liên tục với bụi.

Nhưng nguyên nhân chính là nghiện thuốc lá nặng trong thời gian dài mà có thể làm kích thích phế quản và khiến chúng tiết ra quá nhiều chất đờm nhầy. Các triệu chứng của viêm phế quản mạn tính có thể bị nặng hơn nếu trong không khí có nhiều SO2 hay các chất ô nhiễm khác.

Dấu hiệu trẻ sơ sinh bị viêm phế quản phổi

a . Các triệu chứng có thể gặp trong viêm phế quản cấp tính là:

Bệnh Viêm phế quản cấp thường xuất hiện cùng lúc hoặc ngay sau khi bị viêm đường hô hấp trên với các triệu chứng hắt hơi, sổ mũi, ho khan, rát họng. Diễn tiến bệnh viêm phế quản cấp thường qua hai giai đoạn:

Giai đoạn đầu kéo dài 3 – 4 ngày (còn gọi là giai đoạn viêm khô), bệnh nhân có các triệu chứng: Sốt 38 – 39 độ C, 40 độ C, mệt mỏi, đau đầu, đau nhức người, khó thở nhẹ, có thể có tiếng rít, ho khan, ho thành cơn về đêm.

Giai đoạn 2 thời gian từ 6 – 8 ngày, còn gọi là giai đoạn xuất tiết, các triệu chứng ở giai đoạn đầu giảm, bệnh nhân ho khạc đờm nhầy hoặc đờm mủ.

Ở trẻ em, nguyên nhân thường do virus bắt đầu điển hình sau khi bị viêm hô hấp trên, cảm lạnh, ho sổ mũi , cúm hay viêm xoang. Nếu trẻ không được điều trị và sức đề kháng yếu thì virus có thể lây lan tới hai cuống phổi (bộ phận nối họng và hai lá phổi với nhau), làm cho khí quản sưng phồng, tấy đỏ, tiết dịch nhầy trong phổi, gây kích thích.

Lúc đó, trẻ sẽ ho nhiều và thở mệt do đường thở bị viêm và tiết dịch. Nếu trẻ có những biểu hiện trên cùng với sốt kéo dài trong vài ngày hay ho kéo dài trong vòng từ 2 – 3 tuần, có thể trẻ đã bị viêm phế quản. Tiếp sau đó, trẻ bắt đầu ho nhiều hơn, có cảm giác đỏ rát cổ họng và xuất hiện đờm đục hoặc có màu vàng hay xanh. Ngoài sốt ra trẻ có thể có cảm giác đau ngực, mệt mỏi, chán ăn hoặc nôn ói.

b . Các triệu chứng có thể gặp trong viêm phế quản mạn tính là :

Ho kéo dài có đờm màu vàng, trắng hoặc xanh lá cây (kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và liên tục trong hơn 2 năm). Hơi thở khò khè, đôi khi ngừng thở.

Điều trị bệnh viêm phế quản cho trẻ sơ sinh, trẻ 5 tháng bị viêm phế quản:

Viêm phế quản do một loại virus gây nên, đồng nghĩa với việc thuốc kháng sinh sẽ không đem lại ích lợi gì cho việc điều trị. Kháng sinh chỉ dùng khi có bằng chứng rõ nhiễm khuẩn, và điều này sẽ được bác sĩ đánh giá và cho y lệnh. Cũng không nên tự ý cho uống thuốc ho. Nguyên tắc điều trị là giữ ấm, cho uống nhiều nước ấm để giúp bé không bị tắc nghẽn sung huyết, làm sạch các đường phế quản nghĩa là giúp tống đàm nhớt ra khỏi cuống phổi để trẻ dễ thở hơn. Bác sĩ có thể cho thuốc làm loãng đàm.

Phản xạ ho sẽ giúp tống hết đàm ra ngoài giúp bé mau bình phục. Ở trẻ quá nhỏ phản xạ ho không nhiều, hoặc động tác ho yếu không đủ để tống đàm dễ đưa đến nghẹt đàm, cần phải đưa bé đi tập vật lý trị liệu hô hấp hoặc hút đàm nhớt.

Nhà ở phải được vệ sinh sạch sẽ, không bụi bẩn, không khói thuốc sẽ tránh cho bé cảm giác khó chịu, đề phòng viêm nhiễm đường hô hấp. Khi bé sốt nhẹ chỉ cần uống nhiều nước, mặc đồ thoáng mát, rút mồ hôi, không nên ủ kín hoặc mặc đồ có nhiều chất liệu tổng hợp, nếu sốt cao trên 38 độ có thể cho uống acetaminophen hay ibuprofen giúp hạ sốt và giảm đau.Viêm Phế Quản

Ngay khi trẻ chỉ bị cảm lạnh hay bắt đầu ho sổ mũi cũng cần điều trị dứt điểm để tránh các biến chứng về sau. Trong trường hợp bé có biểu hiện thở mệt, hay thở nhanh, da tái hoặc không ăn uống, nôn tất cả thì đưa tới bệnh viện ngay vì đó là dấu hiệu bé đang gặp nguy hiểm.

Ở trẻ sơ sinh, nhất là trẻ đẻ non và trẻ dưới 2 tháng tuổi, bệnh thường rất nặng, trong khi triệu chứng lâm sàng lại rất sơ sài, có thể không thấy các biểu hiện bệnh ở phổi. Do vậy, khi thấy trẻ bú kém hoặc bỏ bú, sụt cân, rối loạn tiêu hóa (nôn trớ hoặc tiêu chảy), khó thở, có những cơn ngừng thở, tím tái, sùi bọt mép, cần đưa trẻ đi bệnh viện ngay.

Thông thường, nếu bệnh được phát hiện sớm và điều trị tích cực thì sau vài ngày sẽ hết sốt, đỡ khó thở, hết tím tái… rồi khỏi. Khi trẻ bệnh không nên ép ăn, chỉ cần cho uống nước nhiều, cho ăn thức ăn lỏng dễ tiêu như nước xúp, nước cháo, nếu trẻ đòi ăn nữa nghĩa là bắt đầu hồi phục. Sau khi khỏi bệnh, trẻ vẫn cần được theo dõi sát và chăm sóc chu đáo (giữ ấm cơ thể, bồi dưỡng cho trẻ) để tránh tái phát bệnh. ​​

Cách phòng các bệnh về hô hấp như viêm họng, viêm phế quản cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Để hạn chế trẻ mắc bệnh hô hấp, nhất là bệnh viêm phổi, viêm phế quản thì cần hạn chế trẻ dùng nước mát, nước đá, hoa quả và các thực phẩm chế biến sẵn để trong tủ lạnh. Về việc này, các bậc phụ huynh cần kiểm soát được hành vi sử dụng của trẻ, nhất là các trẻ lớn.

Khí hậu nóng bức, khó chịu và dễ gây nhiều bệnh ngoài da cho trẻ em như rôm sảy, mụn nhọt, viêm da, dị ứng da… Do vậy, các bậc cha mẹ đã chuẩn bị rất nhiều thực phẩm cũng như làm nhiều việc để trẻ giải nhiệt trong ngày hè như sử dụng điều hòa, quạt điện, cho trẻ đi bơi, ăn kem, ăn chè lạnh. Tuy nhiên, giống như con dao hai lưỡi, những việc làm này của phụ huynh nếu không đúng mực hoặc không dừng đúng lúc sẽ dễ khiến trẻ mắc một số bệnh về đường hô hấp.

Những nguy cơ gây mắc bệnh viêm phế quản cần cảnh giác:

Đồ ăn lạnh: Mùa hè là mùa nóng nực, vì vậy, một số sinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày có nhiều thay đổi so với các mùa khác trong năm. Điều đáng quan tâm là thói quen trong sinh hoạt ăn, uống đồ lạnh như dùng nước đá trong các cốc nước giải khát như nước cam, chanh hoặc luôn luôn dùng nước mát lạnh mỗi khi khát nước, tắm, sử dụng quạt gió cũng như máy điều hòa nhiệt độ.Viêm Phế Quản

Nhiều gia đình vào mùa hè luôn chuẩn bị sẵn các loại quả hoặc các loại chè (chè lam, chè đỗ đen…) để sẵn trong tủ lạnh để cho trẻ ăn mỗi lúc trẻ có nhu cầu. Nếu trẻ dùng đồ ăn, nước uống lạnh liên tục trong nhiều ngày thì rất có thể làm cho trẻ khó thích nghi và đặc biệt các bộ phận rất nhạy cảm ở họng, miệng, hầu, thanh quản cũng như các bộ phận khác của đường hô hấp dưới cũng bị tổn thương. Biểu hiện của sự nhiễm lạnh là viêm họng, hầu hoặc viêm thanh quản hoặc viêm amiđan, viêm VA. Và từ các bệnh này, trẻ sẽ bị viêm phổi từ mức độ nhẹ đến mức độ nặng nếu không phát hiện kịp thời.

Sử dụng máy điều hòa không đúng cách là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh viêm phế quản

Thói quen trong mùa hè của hầu hết bậc phụ huynh và được trẻ rất hưởng ứng là sử dụng điều hòa. Nếu sử dụng máy điều hòa mà nhiệt độ quá chênh lệch giữa nhiệt độ ngoài trời và nhiệt độ trong phòng thì sẽ không thích hợp với sức khỏe của trẻ do trẻ khó thích nghi (ngay cả người lớn cũng bị ảnh hưởng).
Qua nghiên cứu cho thấy nếu trẻ ở trong phòng có máy điều hòa nhiệt độ liên tục trên 4 giờ thì da, họng hầu, đường hô hấp của trẻ sẽ bị khô và rất dễ để các loại vi sinh vật tấn công, nhất là các loại vi khuẩn đã có sẵn ở đường hô hấp trên của trẻ như H. influenzae, phế cầu… Nếu cho trẻ ra vào phòng điều hòa liên tục nhiều lần trong một khoảng thời gian nhất định thì trẻ cũng dễ bị cảm lạnh do thay đổi nhiệt độ một cách đột ngột quá mức, nhất là đang lạnh đột ngột lại bị nóng làm xuất hiện viêm đường hô hấp trên, thậm chí cả viêm phổi cấp tính.

Cho trẻ tắm quá lâu cũng là nguyên nhân gây bệnh

Trời nóng nực cho nên trẻ thường được tắm, thậm chí tắm nhiều lần trong ngày, đặc biệt là khi trẻ được đi tắm biển. Nếu tắm nhiều lần trong ngày hoặc ngâm mình dưới nước biển với thời gian lâu thì trẻ cũng rất dễ bị cảm lạnh gây viêm họng, viêm amiđan hoặc nặng hơn là viêm phổi. Nếu không phát hiện kịp thời và có biện pháp xử trí thích đáng thì bệnh tình của trẻ sẽ nặng thêm mà biểu hiện là thân nhiệt tăng cao, ho cũng tăng lên, li bì, khó thở nhiều, liên tục.

Nếu trẻ còn bú mẹ sẽ xuất hiện tình trạng trẻ bú ít hoặc bỏ bú. Tình trạng viêm hô hấp nặng lên khi trẻ có các dấu hiệu môi tím, các kẽ liên sườn bị co kéo, môi và các đầu ngón tay, ngón chân bị tím lại. Trẻ bị viêm phổi cũng có thể kèm theo triệu chứng tiêu chảy. Vì vậy, khi có các dấu hiệu sốt, ho, khó thở, tím tái và có tiêu chảy thì chớ hiểu lầm là trẻ không phải bị viêm phổi, đặc biệt quan tâm là trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi. Một điều cần lưu ý là trẻ càng nhỏ tuổi khi bị cảm lạnh gây viêm đường hô hấp thì phụ huynh rất khó để nhận biết.

Đối phó thế nào?

Để hạn chế trẻ mắc bệnh hô hấp, nhất là bệnh viêm phế quản thì cần hạn chế trẻ dùng nước mát, nước đá, hoa quả và các thực phẩm chế biến sẵn để trong tủ lạnh. Về việc này, các bậc phụ huynh cần kiểm soát được hành vi sử dụng của trẻ, nhất là các trẻ lớn.

Mỗi khi sử dụng máy điều hòa nhiệt độ, nên có sự điều chỉnh nhiệt độ hợp lý (chênh lệch nhiệt độ trong phòng và ngoài trời khoảng 2 – 3 độ là vừa). Không nên để gió của máy điều hòa quạt thẳng vào cơ thể trẻ. Ngoài giờ trẻ ngủ thì không nên để trẻ trong phòng máy điều hòa nhiệt độ quá nhiều giờ trong một ngày bởi vì trẻ sẽ bị cảm lạnh và rất có thể bị thiếu ánh sáng mặt trời làm cho trẻ dễ bị còi xương.

Mùa hè, không nên mặc quần áo quá dày hoặc quấn tã lót chặt làm cho trẻ dễ bị cảm lạnh do quần áo hoặc tã lót thấm mồ hôi làm cho trẻ cảm lạnh. Khi trẻ chơi hoặc trẻ ngủ, không nên cho quạt quạt xoáy vào trẻ và chỉ nên dùng tốc độ của quạt ở mức độ thấp hoặc trung bình.

Trong phòng trẻ chơi hoặc trẻ ngủ, không được có khói thuốc lá hoặc khói bếp (bếp dầu, bếp củi, rơm rạ, bếp than). Mặc dù là mùa nắng nóng nhưng khi tắm cho trẻ, nhất là trẻ dưới 5 tuổi, nên dùng nước ấm là tốt nhất và không nên cho trẻ tắm nước lạnh. Khi trẻ có biểu hiện viêm đường hô hấp trên như ho, hắt xì hơi, chảy nước mũi hoặc có kèm theo sốt thì cần nhanh chóng cho trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để khám bệnh, không nên chần chừ làm bệnh của trẻ nặng thêm gây khó khăn cho việc xử trí khi được khám bệnh.Viêm Phế Quản

Bé bị viêm phế quản – Cha mẹ phải làm gì

(Mẹ bé Bông): Bông nhà mình sốt hai ngày, uống kháng sinh theo đơn bác sĩ nói viêm họng cấp, uống đến ngày thứ 3 bắt đầu ho rất nhiều, tiếng ho sâu, có đờm. Ngày thứ 4 ho sâu, mình chú ý lắng nghe sau lưng có tiếng thở khò khè hay không thì chỉ có tiếng dịch mũi của bé ( bé sổ mũi nước mũi trong hơi đặc).
Kiên trì cho con theo toa kháng sinh của bác sĩ, đến một tuần sau thì đỡ ho – chỉ đỡ thôi, bác sĩ nói mình cho bé uống Bạch Long thuỷ, thì thấy con cũng giảm ho, nhưng tiếng thở khò khè thì chưa bao giờ rõ hơn thế. Bé nằm ngủ mình áp tai vào lưng, thấy khò khè lắm.

Có phải là đờm không hả các mẹ? Hay bé đã bị viêm phế quản? Bé không sốt, giảm ho, nhưng người mệt và chán ăn. Mình rất stress vì con thời gian này ốm triền miên. Mong các mẹ có kinh nghiệm cho lời khuyên với. Có phải bé bị viêm phế quản? Cách chăm sóc bé giai đoạn này thế nào?

(Mẹ bé Chíp): Bé giảm ho mà bạn vẫn nghe rõ tiếng khò khè ở lưng thì bị viêm phế quản phổi rồi. Bé nhà mình lúc trước cũng bị tình trạng như vậy, hết ho nhưng mình đặt tay vào sau lưng vẫn nghe rõ tiếng khò khè, BS nói còn rất nhiều đờm và vẫn phải cho uống kháng sinh và thốc long đàm tiếp, đợt đó bé nhà mình uống gần 20 ngày kháng sinh. Mình cũng Strees luôn sau đợt bé nhà mình bị viêm phế quản phổi đó. Bạn nên cho con đi chụp phim phổi và khám bác sĩ lại đi, bệnh này để lâu sẽ nặng hơn và rất dễ tái đi tái lại( BS nói vậy), bạn nhớ giữ ấm cho con nhé.

Mẹ bé Bin tư vấn cách chăm sóc trẻ giúp trẻ không mắc bệnh viêm phế quản:

Em thấy bọn trẻ nhà chúng mình rất dễ bị mắc phải những bệnh về đường hô hấp như ho, chảy nước mũi hay viêm phế quản, mà những lúc bệnh bọn trẻ quấy kinh khủng, vừa thương vừa tức.

Theo em cách tốt nhất tránh bệnh về đường hô hấp cho các bé là giữ ấm thật tốt cho các bé nhất là thời tiết giao mùa như hiện nay. Nhà em có 2 đứa đi đâu em cũng bắt quàng khăn, bịt mặt và đi găng, hiệu quả lắm nhé, thứ nhất là bảo vệ được làn da mỏng manh nhạy cảm của các con, thứ nhì là tranh lây bệnh qua đường hô hấp, tránh được khí thải và khí ô nhiễm. Làm như vậy cũng tránh được gió, các con mình sẽ không bị chảy nước mũi nữa. Người ta nói phòng bệnh hơn chữa bệnh mà, thế nên nhiều khi bị mẹ chồng nói là “cẩn thận không cần thiết” em vẫn làm vậy, em nghĩ miễn tốt cho con mình thôi, các chị nhỉ.

(Mẹ bé Ốc): Đứa đầu nhà mình bị suốt từ hồi 10 tháng tới tận 2 tuổi mới hết. Nghe nói nếu nạo VA cho trẻ thì sẽ bớt nhưng mình sợ con đau. Bé nhà mình từ lần đầu đã đi khám, bác sĩ cho toàn thuốc ngoại, nên sau đó bị lại, mình dùng thuốc nội k ăn thua, cứ thấy uống kháng sinh hoài.Viêm Phế Quản

Hồi được 20 tháng, con mình bị sổ mũi rất nhiều, kèm ho, mình cho đi khám, thì bác sĩ có nói 1 phần nguyên nhân cũng có thể là do bị giun, nên tẩy giun rồi cho uống thuốc mà không đỡ. Sau đó mình cho ra khám Tai Mũi Họng nội soi ở Thái Thịnh, thuốc bác sỹ kê cũng khá nặng và nhiều loại, nhưng quan trọng là có dịch vụ hút mũi, nên bé nhà mình khỏi từ đó tới giờ.

(Mẹ Candy): Chào các mẹ. Con em hay bị viêm phế quản nhưng thường thì sau khi uống kháng sinh sẽ chỉ mất khoảng nửa ngày là hết sốt. Nhưng lần này con uống kháng sinh (sau khi đi khám bác sỹ tư) từ hôm qua mà vẫn sốt khoảng 38.5 độ cả tối, cả đêm và từ sáng đến giờ, chỉ hạ một lúc mỗi khi uống hạ sốt. Em lo là thuốc kháng sinh không hiệu quả. Không biết các bé khác nếu bị viêm phế quản thì sẽ còn sốt bao lâu sau khi uống kháng sinh, có sốt liên tục không hay chỉ từng cơn? Em rất mong thông tin từ các mẹ để quyết định hoặc cho con đi bệnh viện khám và làm các xét nghiệm ngay chiều nay, hoặc cố gắng chờ đợi đến mai xem có đỡ không. Em sốt ruột quá chỉ sợ làm sao. Em cảm ơn các mẹ nhiều lắm.

Mẹ bé Nghé tư vấn:

Bé bị viêm phế quản tùy vào mức độ nặng nhẹ như viêm cấp hoặc là viêm hen, mà bác sĩ cho dùng kháng sinh theo liều tương đối, nhưng tối thiểu là phải được 5 ngày điều trị thì mới bắt đầu thấy kết quả của thuốc. Bên cạnh đó mẹ cần cho trẻ uống nhiều nước, vỗ lưng ngày 2 lần mỗi lần 15 phút, buổi tối ngủ đeo yếm cho bé. Đặc biệt là lót khăn sữa (xô) vào lưng bé cho hút ẩm đừng để lưng bé đổ mồ hôi ra ẩm vì đây là nguyên nhân chính gây cho bé triệu chứng viêm phế quản (thăm chừng thấy khăn ẩm thì thay mới mẹ nhé), cuối cùng xoa dầu vào lòng bàn chân chà cho ấm lên rồi mang vớ vào cho bé.

Mẹ Candy theo những bước này mình xin bảo đảm có kết quả như ý. Đối với 1 số trẻ nhỏ khi kháng thể thấp, lúc dùng kháng sinh trong quá trình điều trị bệnh viêm phế quản sẽ kèm tác dụng phụ là tiêu chảy.
(Mẹ Hồng Yến): Bé nhà mình hôm nay đi khám lại, bác sĩ nói bé khỏi rồi mừng quá các mẹ ơi. Cả chục ngày trời ăn không ngon ngủ không yên vì con bị viêm phế quản, mỗi lần nghe con ho là mẹ lại thắt cả ruột gan các mẹ ạ.

Nhân đây mình xin chia sẻ kinh nghiệm để các mẹ có con bị viêm phế quản đừng quá lo lắng nhé Khi bắt đầu uống thuốc bé hay nôn và nôn ra khá nhiều đờm, sau 2 ngày uống thuốc bé ho nhiều hơn và bị sốt, khi bé sốt mình lấy khăn nhúng nước ấm vắt khô rồi chườm trán và hai bên háng bé, mặc quần áo thoáng mát, khoảng nửa ngày thì bé hạ sốt, mình lại đưa bé đi khám thì bác sĩ bảo con nôn ra được đờm là rất tốt mẹ có thể kích thích cho con nôn ra được càng nhiều càng tốt (rửa sạch tay cho 1 ngón tay vào gần cuống lưỡi bé để kích thích) con nôn được đờm sẽ bớt ho.

Và việc con ho nhiều hơn sau 1, 2 ngày đầu uống thuốc cũng là biểu hiện tốt vì lúc này cơ thể đang phản ứng chống lại vi khuẩn nên con có triệu chứng ho nhiều hơn sau đó sẽ giảm dần. Ngoài ra các mẹ cũng đừng sợ con lạnh mà mặc quá nhiều qần áo cho con, tốt nhất cứ mặc quần áo thoáng mát và giữ ấm cổ cho con là được.

Đừng nên cho trẻ uống kháng sinh ngay khi bị viêm phế quản!

Khi trẻ bị viêm phế quản, nhiều bậc phụ huynh thường muốn giảm ho và bệnh nhanh khỏi nên thường tìm đến kháng sinh. Tuy nhiên, đối với căn bệnh này, không nhất thiết là phải dùng kháng sinh, chỉ dùng khi có bằng chứng rõ là nhiễm khuẩn và được bác sĩ khuyên dùng. Ở trẻ quá nhỏ phản xạ ho không nhiều, hoặc động tác ho yếu không đủ để tống đờm ra thì dễ đưa đến nghẹt đờm, cần phải cho trẻ đi hút đờm nhớt.

Các bậc phụ huynh không nên tự ý cho uống thuốc chống ho khi thấy con mình ho quá nhiều. Nếu ho giúp bé tống hết đờm ra ngoài, thì hoàn toàn lại là việc rất hữu ích, nó sẽ giúp bé mau chóng bình phục hơn.

Lưu ý: Viêm phế quản chủ yếu là do virut gây nên, điều này đồng nghĩa với việc thuốc kháng sinh sẽ không đem lại ích lợi gì cho việc điều trị.

Vì thế, hãy tìm đến những cách chữa trị viêm phế quản an toàn và ít tác dụng phụ hơn!

Nguyên tắc điều trị căn bệnh này là phải giữ ấm, làm sạch các đường phế quản nghĩa là giúp tống đàm nhớt ra khỏi cuống phổi để dễ thở hơn.

Bên cạnh đó, hãy uống nhiều nước ấm mỗi ngày, để giúp không bị tắc nghẽn sung huyết. Không khí trong nhà phải sạch sẽ, không bụi bẩn và không khói thuốc sẽ giúp tránh được cảm giác khó chịu, đề phòng viêm nhiễm đường hô hấp. Khi sốt nhẹ chỉ cần uống nhiều nước, mặc đồ thoáng mát, rút mồ hôi, không nên ủ ấm hoặc mặc đồ có nhiều chất liệu tổng hợp.

Ngay khi bị cảm lạnh hay bắt đầu ho sổ mũi, thì cũng nên điều trị dứt điểm ngay, để tránh các biến chứng về sau Trong trường hợp ở trẻ em có biểu hiện thở mệt, hay thở nhanh, da tái hoặc không ăn uống, nôn thì nên đưa bé tới bệnh viện ngay để nhờ tới sự giúp đỡ của nhân viên y tế.

Khi trẻ bệnh không nên ép trẻ ăn, chỉ cần cho uống nước nhiều, cho ăn thức ăn lỏng dễ tiêu, như nước súp, nước cháo, nếu trẻ đòi ăn nữa có nghĩa là cháu bắt đầu hồi phục bệnh. Sau khi khỏi bệnh, trẻ vẫn cần được theo dõi sát và chăm sóc chu đáo (giữ ấm cơ thể, tránh bị lạnh, ưu tiên bồi dưỡng cho trẻ) để tránh tái phát bệnh.

Ở trẻ sơ sinh nhất là trẻ đẻ non và trẻ dưới 2 tháng tuổi, bệnh thường rất nặng, trong khi triệu chứng lâm sàng lại rất sơ sài, có thể không thấy các biểu hiện bệnh ở phổi. Do vậy, khi thấy trẻ bú kém hoặc bỏ bú, sụt cân, rối loạn tiêu hóa (nôn trớ hoặc tiêu chảy), khó thở cần cho trẻ đi bệnh viện ngay. Thông thường, nếu bệnh được phát hiện sớm và điều trị tích cực thì sau vài ngày trẻ sẽ hết sốt, đỡ khó thở, hết tím tái…

from Healthyblog https://ift.tt/2vaJ17y

Trẻ Bị Sởi Phải Làm Sao? Dấu Hiệu Nhận Biết Và Cách Điều Trị Bệnh Sởi

Trẻ bị sởi phải làm sao? Sởi là bệnh theo mùa, thường gặp ở trẻ nhỏ và là bệnh lành tính. Tuy nhiên, nếu không biết cách chăm sóc  đúng cách, trẻ có thể bị biến chứng dẫn đến tử vong. Những trẻ có nguy cơ mắc sởi cao là những trẻ có thể trạng yếu, sinh non, không được tiêm phòng vắc-xin phòng ngừa đầy đủ. Người lớn cũng có thể bị sởi nếu cơ thể không đủ miễn dịch với bệnh. Mời các bậc phụ huynh tham khảo tư vấn của các bác sĩ healthyblog dưới đây để biết các dấu hiệu khi trẻ bị sởi và cách chăm sóc, điều trị bệnh sởi.

Bệnh biểu hiện bằng tình trạng viêm long ở kết mạc mắt, niêm mạc đường hô hấp, đường tiêu hóa và phát ban đặc hiệu ngoài da.

Dấu hiệu, triệu chứng của bệnh sởi:

Triệu chứng của bệnh sởi

Các dấu hiệu đầu tiên của bệnh sởi thường xuất hiện trong vòng 4-10 ngày sau khi bạn bị nhiễm virus sởi. Các dấu hiệu này bao gồm:

– Các triệu chứng giống như cảm cúm: chảy nước mũi, nước mắt; mi mắt sưng phồng, hắt hơi sổ mũi, ho khan, họng đỏ.

– Mệt mỏi, mắt cộm đỏ, chảy nước mắt, nhạy cảm với ánh sáng;

– Biếng ăn, người hâm hấp sốt vài ngày rồi đột nhiên sốt hơi cao, tai lạnh hoặc ỉa lỏng, ngủ hay giật mình.

– Sốt cao, có thể lên tới 40 độ.

– Mệt mỏi, thiếu sức sống.

– Đau mỏi người.

– Nổi ban (hạt Koplik): các hạt nhỏ bằng hạt cát, màu trắng ngà/xám, quanh có viền đỏ, thường thấy xuất hiện nổi gồ lên trên bề mặt niêm mạc má (phía trong miệng, ngang răng hàm trên).

– Chán ăn.

– Sau vài ngày, các vết ban màu đỏ nâu sẽ xuất hiện

Trẻ mắc sởi nung bệnh trong 3 ngày, mọc sởi 3 ngày, sởi thường mọc từ sau tai, mặt, cổ, lan xuống các chi. Khi sởi mọc đến bụng thì bắt đầu bay từ trên đầu dần xuống… Sởi bay 3 ngày là hết nốt ban, để lại nốt thâm sau khi bay.

Vết ban của bệnh sởi

bệnh sởi

Vết ban sẽ xuất hiện khoảng 2 đến 4 ngày sau khi có các triệu chứng đầu tiên và sẽ tồn tại trong vòng khoảng 1 tuần. Ban sởi là những ban dạng dát-sẩn màu hồng hơi nổi lên trên bề mặt da, sờ mịn như nhung và không đau, không hoặc ít ngứa, không sinh mủ.

Thông thường, các vết ban này sẽ xuất hiện ở quanh tai, sau đó lan ra đầu và cổ trước khi lan ra toàn bộ cơ thể trong vòng vài ngày tiếp theo. Khi ban lan đến chân thì cơn sốt cũng giảm nếu không có biến chứng.

Trong trường hợp nhẹ, ban mọc thưa thớt. Đối với những trường hợp nặng, ban mọc dày đặc cả lòng bàn tay, bàn chân.

Các vết ban thường có kích cỡ nhỏ khi mới xuất hiện nhưng sẽ nhanh chóng to lên, thậm chí là kết hợp thành ban lớn. Nếu bệnh đặc biệt nặng, ban có thể có dấu hiệu xuất huyết.

Người thân trong gia đình có thể nhầm lẫn vết ban của các bệnh khác thành ban sởi. Hãy lưu ý tới các triệu chứng được liệt kê trong mục trên.

Lưu ý: ban sởi là dạng ban xuất hiện có trình tự, từ quanh tai lan dần lên 2 bên má, cổ, ngực, bụng và phần chi trên trong vòng 24 giờ. Trong 24 gờ kế tiếp, ban lan xuống lưng, bụng, 2 tay và sau cùng là 2 chân trong từ ngày thứ hai đến ngày thứ ba của bệnh. Khi kết thúc nổi ban, ban sởi bay theo trình tự xuất hiện để lại vùng da bị ảnh hưởng những vết thâm đen trên bề mặt da. Các bệnh có phát ban khác thường phát ban không theo thứ tự.

Lúc ban sởi bay là lúc cơ thể nhạy cảm nhất và dễ gặp biến chứng nhất, nên cần tiếp tục duy trì chế độ ăn uống, vệ sinh, không chủ quan cho rằng ban đã bay là bệnh khỏi.

Các giai đoạn của bệnh sởi ở trẻ em

– Thời kỳ ủ bệnh chừng 10-12 ngày, có khi ngắn hơn (7 ngày), có khi dài hơn (20 ngày), thường không có biểu hiện gì. Trong một số trường hợp sau khi tiếp xúc với trẻ ốm, trẻ sốt nhẹ trong 5-6 ngày rồi khỏi, và 3-4 ngày sau mới sốt cao và chảy nước mắt nước mũi, hoặc đi tướt, trớ. Trẻ sơ sinh có thể bị xuống cân mặc dù trẻ vẫn bú bình thường.

– Tiếp đến là thời kỳ khởi phát, dài 4-5 ngày. Hai triệu chứng nổi bật là sốt và viêm long. Trẻ đột ngột sốt cao 39-39,5 độ C, vẻ mệt mỏi, kèm theo nhức đầu, đau cơ, khớp; chảy nước mũi, chảy nước mắt, mắt đỏ, ho nhiều, ho khan, có khi bị tiêu chảy.

– Sang ngày thứ hai, các triệu chứng trên nặng thêm. Trẻ ho nhiều, ho khan, đôi khi ho từng cơn, khàn giọng. Có khi bệnh bắt đầu bằng những cơn thở rít (do viêm thanh quản): trẻ chỉ hơi sổ mũi, ban đêm bỗng nổi cơn ho, vùng dậy mê hoảng tưởng như nghẹt thở, nhưng rồi cơn lui dần và trẻ lại nằm ngủ; có khi gần sáng lại lên cơn nữa và khi hết hẳn thì bắt đầu mọc sởi. Lúc này, khám miệng thấy trên nền đỏ thẫm của niêm mạc má có những chấm trắng nhỏ độ 1mm hơi nổi gợn lên (dấu hiệu Koplik). Có khi chỉ có 2-3 nốt ở phần niêm mạc má đối diện với răng hàm số 1. Các nốt này chỉ tồn tại 24-48 giờ và thường lặn hết sau khi sởi mọc 1 ngày.

– Thời kỳ mọc sởi (5-7 ngày)

tre-bi-soi-1

Các triệu chứng nặng hẳn lên, thân nhiệt tăng vọt, trẻ có thể sốt tới 40 độ C, ho liên tục, co giật, mê sảng… rồi đến đêm thì mọc sởi. Phần nhiều ban mọc ở sau tai, chân tóc rồi lan dần theo trình tự: mặt, cổ, lưng, bụng và chân tay.

Đến ngày thứ ba, ban mọc khắp người, ban mọc dầy nhất ở những nơi hay cọ xát hoặc phơi nắng. Có khi các nốt ban hợp với nhau thành từng vầng. Các nốt sởi hình tròn hoặc bầu dục, có màu đỏ hồng nhạt, sờ vào mịn như nhung, ấn vào biến mất, da xung quanh vẫn bình thường. Khi sởi mọc hết thì trẻ hết sốt và sởi bắt đầu bay. Ban sởi bay cũng theo trình tự như khi mọc, để lại các vết thâm và bong da nhỏ như rắc phấn nom vằn như da hổ. Các vết thâm kéo dài khoảng 1 tuần lễ mới hết. Có thể trẻ vẫn còn đau mắt, sổ mũi, quấy khóc, không chịu ăn.

– Thời kỳ hồi phục

Trẻ lại sức dần. Thường sau 1 tuần ban sởi bay hết và chỉ sau 2 tuần trẻ trở lại bình thường.

Trên đây là bệnh cảnh lâm sàng của các trường hợp sởi lành tính. Trong thực tế đôi khi gặp sởi ác tính: ban mọc ít, trẻ sốt cao, mê sảng, xuất huyết, đi tiểu ít… có thể dẫn đến tử vong; hoặc biến chứng do bội nhiễm vi khuẩn gây viêm tai giữa, viêm phế quản – phổi, viêm thanh quản (xảy ra sớm, trong những ngày đầu khi mới mọc sởi), viêm não, sơ nhiễm lao hoặc lao tiến triển, viêm cơ tim, viêm miệng hoại tử, khô loét giác mạc do thiếu vitamin A. Điều đáng quan tâm là sau sởi trẻ dễ bị suy dinh dưỡng nặng.

Biến chứng của bệnh sởi

Các biến chứng của bệnh sởi có thể đe dọa tới tính mạng của người bệnh. Các biến chứng này bao gồm nhiễm khuẩn ở phổi (viêm phổi) hoặc ở não (viêm não).

Những người dễ mắc biến chứng của bệnh sởi bao gồm:

– Trẻ dưới 12 tháng tuổi,

– Trẻ có sức khỏe kém,

– Trẻ có hệ miễn dịch suy giảm: trẻ mắc AIDS, trẻ đang chữa hóa trị liệu hoặc trẻ bị ung thư bạch cầu.

– Trẻ vị thành niên và người lớn.

Theo ước tính, cứ 1 trên 5.000 người mắc sởi sẽ tử vong do biến chứng.

Các biến chứng thường gặp

Các biến chứng thường gặp nhất của bệnh sởi bao gồm:

– Tiêu chảy.

– Nôn mửa.

– Nhiễm trùng tai, có thể gây đau tai.

– Nhiễm trùng mắt (viêm kết mạc).

– Viêm thanh quản.

– Viêm phổi, viêm phế quản và viêm thanh quản (do nhiễm trùng đường hô hấp và phổi).

– Sốt cao, co giật.

Các biến chứng hiếm gặp hơn

Các biến chứng hiếm gặp hơn của bệnh sởi bao gồm:

– Nhiễm trùng gan (viêm gan).

– Lác mắt (trong trường hợp virus tác động vào hệ thần kinh và hệ cơ của mắt.

– Viêm màng não (nhiễm trùng cơ xung quanh não và cột sống) hoặc viêm não (nhiễm trùng não).

Các biến chứng cực kì hiếm gặp

Trong một số rất ít các trường hợp, bệnh sởi có thể gây ra các biến chứng sau:

– Nhiễm trùng thần kinh thị giác (dây thần kinh truyền thông tin từ mắt lên não). Có thể gây mù mắt.

– Rối loạn tim và hệ thần kinh.

– Viêm não toàn bộ xơ hóa bán cấp (SSPE: Subacute Sclerosing PanEncephalitis): Có thể gây chết người. Tỉ lệ xảy ra là 1/25.000 trường hợp nhiễm sởi.

Biến chứng đối với phụ nữ mang thai

Nếu bạn chưa miễn dịch sởi và mắc sởi khi đang mang thai, bạn mắc nguy cơ:

– Sảy thai.

– Sinh thai chết.

– Sinh non (sinh trước khi thai được 37 tuần tuổi).

– Sinh con thiếu cân.

Nếu bạn đang mang thai, chưa được miễn dịch và lo ngại đã tiếp xúc với bệnh nhân sởi, hãy nhanh chóng liên hệ với các bác sĩ nhằm giảm nguy cơ mắc sởi.bệnh sởi

Các dấu hiệu bệnh sởi nặng

Khi bạn hoặc trẻ nhỏ trong gia đình bị mắc bệnh sởi, hãy cẩn thận để ý tới các dấu hiệu biến chứng nguy hiểm trong quá trình hệ miễn dịch đào thải virus sởi:

– Thở hụt hơi.

– Đau, tức ngực dữ dội; đau nặng hơn khi thở.

– Ho ra máu.

– Chóng mặt.

– Co giật.

Các triệu chứng này là dấu hiệu của các trường hợp nhiễm khuẩn nặng. Bạn cần phải nhanh chóng đưa người bệnh tới bệnh viện điều trị.

Cách điều trị cho trẻ bị bệnh sởi:

Bệnh sởi không có biện pháp điều trị chuyên biệt nào cả. Thông thường, hệ miễn dịch sẽ tự loại bỏ virus sởi trong vòng từ 7 đến 10 ngày. Điều trị sởi chủ yếu là điều trị triệu chứng, chăm sóc và phòng ngừa biến chứng. Với thể sởi lành tính, điều trị tại nhà. Cách ly trẻ tại phòng riêng ngay khi trẻ mới sốt và viêm họng; bảo đảm thoáng, sáng, tránh gió lùa; không cho tiếp xúc với những trẻ khác. Có thể cho trẻ ở trong phòng máy lạnh nhiệt độ khoảng 25 độ C, bật chế độ khô/hút ẩm để giảm độ ẩm không khí.

– Giữ vệ sinh sạch sẽ

Hàng ngày vệ sinh da dẻ, răng – miệng – mắt để tránh nhiễm khuẩn, lở loét da: rửa mặt, lau mắt, lau người bằng nước ấm; thường xuyên lau miệng bằng khăn sạch, mềm (nhúng nước đã đun sôi để nguội). Với trẻ lớn, cho súc miệng nước muối (pha loãng có độ mặn như nước mắt). Nhỏ mắt, nhỏ mũi bằng nước muối sinh lý hoặc thuốc nhỏ mắt mũi chuyên dùng khoảng 3, 4 lần/ngày.

Tắm, rửa chân tay cho người bệnh bằng nước đun sôi để nguội hoặc nước lá lành như: kinh giới, lá mùi, trà xanh… (lưu ý dùng nguồn nước sạch và rửa sạch các loại lá trước khi nấu nước tắm). Không được kiêng nước, kiêng tắm rửa bởi sẽ gây ngứa và gãi xước da dẫn tới nhiễm trùng.

Để tránh lây nhiễm cho mình và những người khác, đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người bệnh. Rửa tay kỹ bằng xà phòng diệt khuẩn sau khi tiếp xúc với người bệnh. Rửa tay trước khi chế biến thức ăn cho người bệnh.

Mặc quần áo rộng thoáng cho người bệnh. Giặt riêng quần áo của người bệnh, tốt nhất là giặt bằng nước nóng, phơi đồ nơi có nắng và thoáng gió. Nếu quần áo ẩm lâu khô thì nên dùng máy sấy và là ủi nóng để diệt khuẩn. Thay ga, gối, chăn sạch.

Vệ sinh môi trường: Tẩy trùng sàn nhà, đồ chơi trẻ em, dụng cụ, vật dụng của người bệnh (rửa bằng xà phòng diệt khuẩn hoặc dung dịch sát khuẩn Cloramin B).

– Điều trị cơn sốt và giảm đau

Uống paracetamol hoặc ibuprofen để giảm sốt, giảm đau và mỏi. Không được dùng aspirin để giảm sốt. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ nếu như bạn không thực sự chắc chắn nên dùng loại thuốc nào. Nên lau người bằng khăn ấm để giảm sốt. Không chườm đá hoặc khăn lạnh.

Xem thêm: Dùng thuốc hạ sốt đúng cách

– Ăn uống đúng cách

Cho ăn nhẹ, lỏng, dễ tiêu hoá, đủ chất (cháo thịt nạc, soup rau củ, canh các loại rau xanh mát nấu với thịt…). Với trẻ đang bú, tiếp tục và tăng cường cho bú mẹ để tăng đề kháng. Trẻ đang ăn bổ sung, ngoài sữa mẹ cần ưu tiên khẩu phần đủ chất dinh dưỡng nhất là những thực phẩm giàu protid và caroten.

Cho trẻ ăn nhiều rau chân vịt, cải trắng, cà rốt, củ cải, táo, lê,… sẽ cung cấp năng lượng cho trẻ, giúp trẻ nhanh chóng phục hồi sức khoẻ.

Không nên cho trẻ ăn các loại thức ăn chứa protein gây dị ứng như các loại thủy sản, cá rô, cá chép, cua, tôm càng, tôm nõn, cá diếc, sò, nghêu, các loại thịt dê, thịt chó, thịt gà, vịt, ngựa, lừa, các loại côn trùng như chấu chấu, kén nhộng, các loại rau kích thích như ớt, rau thơm, các thứ gia vị thơm cay như hoa hồi, bột hạt cải… Bổ sung protein cho trẻ bằng cách cho uống sữa đậu nành.

Cho uống thuốc giảm ho bằng thảo dược. Không cho uống các loại thuốc giảm ho, long đờm, chống sổ mũi của Tây y, vì ho và sổ mũi sẽ bảo vệ phổi cho bé, giúp bé không bị viêm phổi.

Cho trẻ uống nước ấm, đặc biệt là nước có chứa mật ong hoặc chanh để giúp thả lỏng đường hô hấp, giảm chất nhầy trong đường hô hấp hoặc giảm ho.

Nếu con của bạn bị sốt cao, hãy cho bé uống rất nhiều nước vì các bé đang gặp nguy cơ mất nước rất lớn. Cho trẻ uống nhiều nước cũng sẽ làm giảm sự khó chịu khi ho.

Không nên uống các loại nước kích thích, có ga.

Có thể uống sữa, uống nước cam, nước dừa, nước quả để cung cấp vitamin và tăng đề kháng, uống oresol để chống mất nước. Uống vitamin tổng hợp và vitamin C.

Tuyệt đối không cho bé tiếp xúc với khói thuốc lá, vì khói thuốc lá làm tăng nguy cơ biến chứng viêm tai giữa hay viêm phổi. Không ai được hút thuốc lá gần bé, nếu hút thuốc bên ngoài thì khi về nhà phải thay đồ, tắm rửa và súc miệng trước khi tiếp xúc bé, vì những chất độc của khói thuốc lá có thể vẫn còn trên người của người hút và bé có thể hít phải.

– Uống vitamin A

Tình trạng thiếu vitamin A gặp ở 90% bệnh nhi mắc sởi ở châu Phi và gặp ở 22-72% bệnh nhi mắc sởi ở Mỹ. Có mối tương quan nghịch giữa nồng độ Vitamin A trong máu với mức độ nặng của sởi. Điều trị bằng Vitamin A đường uống đã được chứng minh làm giảm tỷ lệ tử vong cũng như biến chứng ở trẻ em mắc sởi tại các nước đang phát triển. Cụ thể, Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo bổ sung vitamin A cho tất cả trẻ em được chẩn đoán với bệnh sởi với liều lượng theo độ tuổi như sau:

• Trẻ sơ sinh dưới 6 tháng: 50.000 IU/ngày, dùng 2 liều cách nhau 24 giờ

• Tuổi 6-11 tháng: 100.000 IU/ngày, dùng 2 liều cách nhau 24 giờ

• Trẻ trên 1 tuổi: 200.000 IU ngày, dùng 2 liều cách nhau 24 giờ

• Trẻ em có dấu hiệu lâm sàng thiếu vitamin A: 2 liều đầu tiên theo tuổi, từ 2 đến 4 tuần sau đó bổ sung thêm liều thứ 3 theo tuổi

Cách này nhằm phục hồi nồng độ vitamin A thấp khi mắc sởi, xuất hiện ở cả những trẻ được chăm sóc dinh dưỡng tốt và có thể dự phòng tổn thương mắt và mù. Bổ sung vitamin A cho thấy giảm 50% số ca tử vong do sởi.

– Điều trị đau mắt

Kéo bớt rèm cửa để giúp giảm khó chịu khi tiếp xúc với ánh sáng (vẫn để mở cửa sổ để thoáng khí, không để phòng quá tối).

Bạn có thể dùng khăn bông sạch thấm nước muối sinh lý để lau rỉ mắt. Thay bông mỗi lần lau. Lau nhẹ mắt từ trong ra ngoài.

– Điều trị các triệu chứng giống như cảm cúm

Việc xông hơi có thể giúp người bệnh hồi phục từ các cơn ho. Hãy ngồi trước một bát nước nóng, đặt khăn ướt lên trên trán, nhắm mắt và hít thở sâu. Tránh để hơi nước bay vào mắt.

Trẻ em không nên xông hơi bởi các em có thể bị bỏng. Bù lại, bạn có thể để cho các em ngồi trong phòng tắm nóng, có nhiều hơi nước. Hoặc, bạn cũng có thể đặt khăn ấm lên máy sưởi dầu để không khí trong phòng có nhiều hơi nước hơn.

Uống nước ấm có pha chanh/mật ong/gừng/bạc hà, các thức uống có nhiều vitamin C. Súc miệng nước muối thường xuyên. Xịt rửa mũi bằng nước biển sâu. (Không uống thuốc chống sổ mũi).

– Không dùng thuốc kháng sinh cho trẻ bị sởi với mục đích dự phòng biến chứng vì dễ gây loạn khuẩn và dị ứng. Chỉ khi trẻ bị viêm tai giữa, viêm thanh – khí – phế quản, viêm phổi do bội nhiễm vi khuẩn mới cho dùng thuốc kháng sinh; và chỉ dùng khi có chỉ định của thầy thuốc.

– Không uống thuốc cầm tiêu chảy khi trẻ bị tiêu chảy do sởi. Chỉ cho bé uống bù nước bằng dung dịch Oresol hoặc nước dừa tươi, ăn cháo thịt nạc, soup rau củ. Cà rốt có thể trị tiêu chảy và bổ sung caroten, nên cho bé ăn tăng cà rốt.

– Chú ý theo dõi thân nhiệt hằng ngày, nhất là khi sởi bay có thể xảy ra biến chứng. Khi sởi bay mà trẻ vẫn sốt cần phải nghĩ đến biến chứng và đưa trẻ đi bệnh viện ngay

Chăm sóc trẻ bị sởi:

– Để trẻ nằm trong buồng thoáng khí, sáng, không nên kiêng khem quá mức, nên bỏ tập tục kiêng nước, kiêng gió. Vệ sinh răng miệng và thân thể cho trẻ.

– Nhỏ mũi, mắt cho trẻ bằng dung dịch nước muối sinh lý hoặc dung dịch nước nhỏ mắt mũi, ngày 3 -4lần.

– Nếu không có biến chứng thì không cần dùng kháng sinh chỉ dùng Vitamin B1, C liều cao. Trường hợp sốt cao trên 39độ C thì có thể cho hạ nhiệt bằng thuốc

– Trường hợp sởi có biến chứng (dấu hiệu trẻ vẫn sốt sau khi ban đã bay hết) phải đưa trẻ đến bệnh viện và điều trị kịp thời.

– Chế độ ăn trong những ngày trẻ sốt cao thì nên cho trẻ ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước quả.

– Khi trẻ bị tiêu chảy cho trẻ bú mẹ nhiều hơn, chú ý bù nước và điện giải cho trẻ để chống mất nước mất muối.
Phòng bệnh sởi cho trẻ:

Cách phòng bệnh tốt nhất là đưa trẻ từ 9 tháng tuổi đi tiêm phòng văcxin sởi đầy đủ. Phát hiện sớm giai đoạn viêm long để cách ly trẻ bệnh với trẻ thường.

bệnh sởi

Trẻ mắc bệnh sởi cần kiêng gì?

– Không nên cho bé kiêng nước lúc này vì da bé đang không khỏe mạnh nên càng cần được làm sạch để tránh viêm nhiễm. Do đó nếu để da bẩn, trẻ sẽ mệt mỏi thêm, dễ bị viêm da, thậm chí bội nhiễm, rất nguy hiểm. Các mẹ có thể tắm cho bé bằng cách dùng nước ấm rửa từng phần một, đầu tiên là mặt, cổ, sau đó đến tay, ngực – bụng, lưng, hai chân… Làm sạch xong phần nào, thấm khô và quấn khăn cho bé phần đó, rồi mới tiếp tục. Nên làm nhanh, nhẹ nhàng.

– Tránh để mắt trẻ tiếp xúc với ánh sáng: Trẻ bị lên sởi thường rất nhạy cảm với ánh sáng, nhất là khi mắt đang bị đau nhức và ra ghèn gỉ. Mẹ nên dùng kèo rèm cửa để chắn sáng và cho bé ở trong phòng với ánh sáng yếu những vẫn đảm bảo thông thoáng.

Chăm sóc để tránh biến chứng cho bé bị sởi

Virus sởi lan truyền do dịch tiết mũi họng của người nhiễm bệnh theo không khí thoát ra khi người bệnh ho hoặc hắt hơi, nói chuyện. Thời điểm lây lan mạnh nhất là trước giai đoạn mọc những nốt ban.

Virus gây bệnh sởi có độc tố rất mạnh, nếu đúng sởi bao giờ cũng có hiện tượng ho, viêm long đường hô hấp, viêm kết mạc, sốt, nước mắt chảy kèm nhèm. Sau 2 – 3 ngày bắt đầu mọc các nốt theo trình tự từ ráy tai, nốt trên trán, mặt rồi bắt đầu lan xuống người, xuống chân tay. Nốt của sởi rất mịn, mềm mại sờ vào mịn như nhung, ấn vào biến mất, da xung quanh vẫn bình thường. Khi sởi mọc hết toàn thân thì trẻ hết sốt và sởi bắt đầu bay. Các vết thâm kéo dài khoảng 1 tuần lễ mới hết và trẻ trở lại bình thường.

Biến chứng nguy hiểm

Chăm sóc không đúng cách, sởi có thể gây những biến chứng nguy hiểm có thể dẫn đến tử vong. Sởi có thể gây tổn thương não nghiêm trọng, gây thân thần phân liệt, trầm cảm….

Đối với trẻ em, nhất là trẻ bị suy dinh dưỡng thì nguy cơ mắc sởi cao, nhưng nhưng rồi bệnh sởi lại là thủ phạm gây suy dinh dưỡng hoặc làm cho tình trạng suy dinh dưỡng nặng thêm. Trong thời gian bị sởi, trẻ thường kém ăn (nhất là những trẻ bị mọc nốt sởi trong họng), hơn nữa, nhiều trẻ lại bị ỉa chảy trong thời gian này nên tình trạng suy dinh dưỡng càng nặng hơn.

Ngoài ra, bệnh sởi còn gây biến chứng gây viêm đường đường tiêu hóa (trẻ thường bị đia ngoài sống phân, tiêu chảy); bị biến chứng viêm đường hô hấp trên như viêm họng, viêm tai giữa, viêm đường hô hấp dưới như viêm phổi…

Tránh biến chứng

Kiêng gió, kiêng bẩn, cách ly trẻ, cho trẻ ở phòng thoáng, sáng, tránh gió lùa. Lau người cho trẻ hàng ngày bằng khăn sạch, mềm. Thường xuyên rửa mặt, lau mồm cho bé, thay ga, đệm, quần áo để đảm bảo giữ vệ sinh cho trẻ.

Khi bé bị sởi thường lười ăn, cha mẹ nên nấu các loại cháo, sữa, thức ăn dễ tiêu, cho trẻ ăn nhiều bữa trong ngày. Hơn nữa, có nhiều trường hợp nốt sởi mọc ngay trong đường ruột, nếu cho trẻ ăn nhiều chất xơ, thức ăn cứng thì rất nguy hiểm, thậm chí gây chảy máu đường tiêu hóa. Nhất là cần đảm bảo cho trẻ uống đủ nước, nước hoa quả tươi.

Khi bé bị sốt cao, cha mẹ có thể hạ nhiệt bằng thuốc paracetamol theo cân nặng, nhưng nếu không hạ nhiệt được phải đưa đến bệnh viện để phòng biến chứng. Chú ý theo dõi thân nhiệt hằng ngày, nhất là khi sởi bay có thể xảy ra biến chứng. Thường trẻ chỉ bị sốt khoảng 3 ngày, sau đó hạ sốt, nốt sởi dần bay rồi mất hẳn, nhưng khi nốt sởi đã hết mà lại bùng lên sốt lại rất nguy hiểm, báo hiệu trẻ có thể đã bị nhiễm trùng, phổi, não, tai, cần phải đưa ngay trẻ đến bệnh viện.bệnh sởi

Phòng bệnh sởi

Cách tốt nhất để phòng bệnh sởi là tiêm vaccine tổng hợp MMR (measles, mumps, rubella) dùng tránh sởi, quai bị và rubella.

Hiện nay có tình trạng nhiều phụ huynh không tiêm phòng sởi cho con, do có tin đồn về việc vaccine này gây ra bệnh tự kỷ ở trẻ em. Một số phụ huynh khác thì không tin tưởng vào chương trình tiêm chủng sau nhiều vụ việc trẻ em bị tử vong sau tiêm chủng thời gian gần đây. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chứng minh vaccine MMR không liên quan gì đến bệnh tự kỷ, và tự kỷ là một dạng tổn thương ở não từ khi người mẹ mang thai chứ không do tiêm vaccine. Các trường hợp tử vong nếu do tiêm vaccine cũng chỉ là cá biệt, nếu bỏ qua việc tiêm vaccine cho con là bạn đã đặt con mình trước những nguy cơ mắc các bệnh hiểm nghèo mà y học đã dày công nghiên cứu tìm cách chữa trị bằng vaccine. Khi cộng đồng có nhiều người không tiêm phòng, các dịch bệnh có thể bùng phát dữ dội trở lại.

Hiện có nhiều loại vaccine phòng sởi song chủ yếu chia làm 2 loại, gồm loại đơn và loại phối hợp. Vaccine phòng sởi đơn thường được tiêm mũi 1 khi trẻ được 9 tháng tuổi và mũi 2 nhắc lại khi trẻ 18 tháng tuổi.

Vaccine MMR là vaccine phối hợp. Mũi MMR đầu tiên thường được tiêm cho trẻ 13 tháng tuổi. Mũi MMR thứ 2 được tiêm vào trước thời điểm con của bạn bắt đầu đi học, tức là khi trẻ từ 3-5 tuổi.

Ngay cả trẻ em được tiêm vaccine trước khi đủ 12 tháng tuổi vẫn cần phải được tiêm 2 liều định kì vào thời điểm 13 tháng tuổi và trước khi đi học tiểu học.

Hãy liên hệ với bác sĩ hoặc kiểm tra lại sổ theo dõi tiêm chủng để biết rõ liệu con bạn đã được tiêm vaccine đầy đủ so với độ tuổi hay chưa.

Lưu ý từ bác sĩ Nguyễn Trí Đoàn (phòng khám Victoria Healthcare): vaccine sởi là vaccine sống giảm độc lực, có nghĩa là đó là virus sởi sống nhưng đã được làm yếu đi để không gây ra bệnh thực sự. Bé sơ sinh đã nhận kháng thể của mẹ truyền qua nhau thai, giúp bảo vệ bé đến khoảng 1 tuổi, nếu bé chích vaccine sởi trước 1 tuổi, kháng thể còn trong máu sẽ tiêu diệt 1 phần vaccine sởi đó nên cơ thể chỉ đáp ứng tạo kháng thể đối với phần vaccine còn lại thôi, có thể là chỉ còn 50% hay 60% vaccine chích vào. Hiện tượng này gọi là đáp ứng miễn dịch không hoàn toàn. Vì vậy, nếu bé được chích mũi vaccine sởi trước 1 tuổi thì liều vaccine đó không được tính là 1 mũi chích đầu tiên, và từ 1 tuổi trở lên phải chích lại (thường chích mũi sởi – quai bị – rubella) và lúc đó mới tính là mũi chích đầu tiên (mũi 1). Nếu bé chích vaccine sởi đầu tiên vào lúc 1 tuổi trở lên thì đáp ứng miễn dịch được xem là hoàn toàn và lượng kháng thể tạo ra đủ sử dụng trong vài năm, do đó bé sẽ được chích nhắc lại 1 mũi vaccine sởi (hay sởi – quai bị – Rubella) (mũi 2) lúc 4-6 tuổi (không nhất thiết phải tiêm nhắc lại sớm hơn, tuy nhiên muốn tiêm nhắc sớm hơn cũng được, miễn là phải cách mũi vaccine sống tối thiểu 4 tuần lễ). Nếu chích liều đầu tiên sau 1 tuổi thì hiệu quả bảo vệ của vaccine sởi là hơn 97%.

Những người đã được tiêm ít nhất một mũi vaccine sởi thì nếu có mắc sởi cũng bị nhẹ hơn và giảm đáng kể biến chứng.

Người lớn và trẻ từ 6 – 13 tháng tuổi cũng có thể tiêm MMR nếu như họ gặp nguy cơ mắc sởi cao. Ví dụ, trong khu vực đang có dịch sởi bùng phát, hoặc trong trường hợp bạn đang chuẩn bị đi tới các vùng có tỉ lệ nhiễm sởi cao, hoặc trong trường hợp bạn đã tiếp xúc với người bị bệnh sởi, bác sĩ có thể sẽ khuyến cáo tiêm vaccine MMR.

Trong trường hợp bạn không rõ liệu con của mình đã được tiêm vaccine trong quá khứ hay chưa, việc tiêm vaccine thêm một lần nữa cũng sẽ không gây hại gì cả.

Cách phòng sởi cho trẻ sơ sinh và trẻ dưới 6 tháng tuổi

Ngay sau khi sinh con, cách tốt nhất để phòng bệnh và tăng đề kháng cho trẻ là cho trẻ tiếp xúc với cơ thể mẹ ngay và cho con bú càng nhiều càng tốt. Lưu ý là những ngày đầu sữa có thể chưa về nhưng trong vú mẹ đã có sữa non (colostrum) rất giàu kháng thể, sữa non đã được tích lũy trong vú mẹ từ tháng mang thai thứ năm, nên cho dù người mẹ cảm giác không có sữa nhưng thực tế bé vẫn bú được lượng sữa non quý giá này. Cho con bú mẹ hoàn toàn ít nhất trong ba ngày đầu để bé lấy toàn bộ lượng sữa non và sữa sau này sẽ nhiều, đủ cho bé bú. Đừng lo trẻ bị đói vì trong 3 ngày đầu trẻ vẫn được cung cấp dinh dưỡng từ cuống rốn. Tránh hết sức việc dùng sữa công thức cho trẻ dưới 6 tháng tuổi. Trẻ mới sinh có thể bị giảm cân nặng là bình thường, nhưng nếu người mẹ cho bé bú đúng cách thì mẹ sẽ cung cấp đủ sữa cho con bú và bé sẽ tăng cân tốt, đồng thời trẻ sẽ không bị bệnh trong 6 tháng đầu đời cũng như có đủ kháng thể để chống lại các căn bệnh khác khi lớn hơn.

Trẻ dưới 6 tháng tuổi không nên tiêm vaccine MMR. Nếu mẹ của đứa trẻ đã từng được miễn dịch, đứa trẻ sẽ có sẵn một lượng kháng thể đối với bệnh sởi do mẹ truyền lại vào thời điểm sinh con. Các kháng thể này có thể giúp bảo vệ trẻ sơ sinh trong vòng vài tháng sau khi sinh.

Nếu mẹ của trẻ chưa được miễn dịch trước khi mang thai, trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi có thể được tiêm globuline miễn dịch (HNIG) nếu như hệ miễn dịch của các em quá yếu. HNIG không phải là vaccine mà chỉ là một lượng kháng thể tập trung có thể giúp bảo vệ trẻ sơ sinh trong một thời gian ngắn. Sau khi tiêm HNIG, phải sau ít nhất 3 tháng mới được tiêm vaccine MMR.

Biện pháp tiêm vaccine cho mẹ và trẻ trên 6 tháng tuổi vẫn là biện pháp phòng ngừa cần thiết nhất.

Phòng sởi cho phụ nữ sắp/đang mang thai

Nếu sắp sửa mang thai và chưa miễn dịch sởi (chưa tiêm vaccine, chưa từng bị nhiễm sởi), bạn cần nhanh chóng tiêm vaccine MMR trước khi mang thai.

Phụ nữ đang mang thai không nên tiêm vaccine MMR. Do đó, nếu bạn có nguy cơ đã tiếp xúc với người bệnh sởi, bạn có thể sẽ được tiêm HNIG để giảm nguy cơ nhiễm sởi.

Tránh lây lan bệnh sởi

Khi bạn hoặc người trong gia đình bị mắc sởi, việc tránh lây bệnh cho người khác là tối quan trọng.

Bạn cần tránh đến trường học hoặc công ty trong vòng ít nhất 4 ngày sau khi xuất hiện các vết ban.

Bạn cần tránh tiếp xúc với những người có khả năng bị lây bệnh cao, ví dụ như trẻ nhỏ hoặc phụ nữ có thai.

Tránh tới những nơi đông người để đề phòng lây nhiễm từ cộng đồng.

Trong bối cảnh dịch sởi đang bùng phát như hiện nay, bạn không nên đưa con trẻ tới bệnh viện để tránh lây chéo khi trẻ chỉ bị các bệnh thông thường khác như viêm mũi họng, phế quản…, và khi cần thì tránh đưa trẻ tới các bệnh viện lớn nơi đang tập trung nhiều trẻ bị sởi.

Trường hợp trẻ có các dấu hiệu ban đầu và nhẹ của bệnh sởi, trước mắt hãy điều trị tại nhà như hướng dẫn ở trên, hoặc có thể đưa con tới các cơ sở y tế tại địa phương để kiểm tra. Chỉ trong trường hợp bệnh biến chứng nặng, bạn mới nên đưa người bệnh tới các bệnh viện để điều trị. Các dấu hiệu ban đầu của sởi khá giống với sốt phát ban, sốt xuất huyết, cảm cúm…, nếu quá nôn nóng đưa con tới bệnh viện trong thời gian này, con bạn dù không bị sởi cũng có thể bị lây sởi tại bệnh viện và có thể bị biến chứng nặng khi “ra gió” và mệt mỏi do di chuyển.

Bệnh viện Nhi Trung ương lúc này đang quá tải bệnh nhân sởi và cũng là nơi có nhiều trẻ tử vong nhất, bạn nên tránh đưa con tới bệnh viện này.

Các biện pháp dân gian như uống và tắm nước lá mùi, dùng các bài thuốc sắc dân gian tuy chưa được y học khẳng định về tính hiệu quả nhưng bạn cũng có thể tìm hiểu để áp dụng, song không nên quá lo lắng và nên rửa thật sạch các thảo dược trước khi dùng.

Trẻ bị sởi nên kiêng ăn gì?

Thực phẩm nên dùng khi trẻ bị sởi

Khi trẻ bị sởi, bạn nên dùng các thực phẩm như: củ năng, đậu hũ, cháo đậu đỏ, cháo đậu xanh, cháo cà rốt, bắp cải, cải bó xôi, mía lau, nấm hương, củ cải đường, hoa hiên (hoa kim châm), bí đỏ, bông cải xanh, bí đao, rau dền đỏ, dưa hấu, dưa chuột, lê, giấm gạo, cá chép, cá da trơn (cá ba sa, sa ba, cá bông lau), cá hồi, cá trích, thịt heo nạc, nho, trà xanh, rong biển, cà chua, cà rốt, chuối, táo, lê, đậu xanh, hạt sen, hạt mè, hạt ý dĩ…

Thực phẩm không nên dùng khi trẻ bị sởi

Trẻ em đang bị bệnh sởi thì không nên dùng các loại gia vị cay nóng như ớt, hạt tiêu, quế, hành tây, tỏi, cà ri, rau thì là… Những thực phẩm này có tác dụng trợ nhiệt, động huyết, gây ra những phản ứng bất lợi cho người bệnh.

Hạn chế các thức ăn chứa nhiều chất béo, thức ăn chiên xào nhiều dầu mỡ, thức ăn nướng, xông khói, nội tạng động vật, bánh kem, chocolate… Đây là những thức ăn rất dễ sinh đàm nhiệt, thấp nhiệt, động hỏa, cũng không có lợi cho người bệnh sởi.

Nếu trẻ bị dị ứng khi ăn các thức ăn (như trái cây sấy khô, các loại hải sản như cua, ốc, nghêu, sò, mực, cá biển, đậu phộng, chocolate, pho mát, sữa, trứng, phụ gia thực phẩm, các chất cay nóng, gây kích thích) thì nên tránh, không được dùng.

Với tình trạng dịch sởi đang diễn biến phức tạp như hiện nay, các chuyên gia y tế khuyến cáo, chỉ có biện pháp tiêm phòng mới có thể kiểm soát tốt được dịch sởi. Khi phát hiện trẻ có sốt phát ban, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được điều trị và cách ly kịp thời, tránh lây nhiễm cho cộng đồng.

from Healthyblog https://ift.tt/3b5wWkq

Trẻ Bị Viêm Họng Cấp, Sốt Cao Nhiều Ngày Liên Tục Có Nguy Hiểm Không?

Mùa hè nóng nực trẻ dễ bị viêm họng cấp do ra nhiều mồ hôi, sức đề kháng giảm. Nhiều trẻ mắc bệnh do nằm quạt, điều hòa không đúng cách, …

Nếu không được điều trị và chăm sóc đúng rất dễ gây biến chứng như viêm amidan, viêm tai, viêm xoang, viêm thanh quản, viêm phế quản, viêm hạch mủ …

Vậy nguyên nhân bệnh viêm họng và cách điều trị, chăm sóc trẻ bị viêm họng như thế nào? Mời các bạn tham khảo tư vấn của các bác sĩ chuyên khoa hô hấp  dưới đây nhé.

Nguyên nhân khiến trẻ bị viêm họng

Trẻ bị viêm họng có thể do virus (thường xảy ra khi cảm cúm hoặc cảm lạnh) hoặc do vi khuẩn (như nhiễm khuẩn liên cầu).

Trẻ bị viêm họng được gọi là nguy hiểm khi nguyên nhân gây viêm họng do liên cầu bêta tan huyết nhóm A. Nguyên nhân là do vỏ của loại liên cầu này có cấu trúc gần giống cấu tạo của màng thận, màng tim, màng khớp, do đó khi mắc bệnh và không được điều trị kịp thời, cơ thể tự sản sinh ra kháng thể chống lại loại liên cầu này, đồng thời tấn công cả vào thận, tim và khớp gây viêm khớp, viêm cầu thận, thấp tim để lại hậu quả rất nặng nề cho bản thân người bệnh nhân và cộng đồng.

Biến chứng và cách điều trị bệnh viêm họng cấp

Trẻ bị viêm họng

Bệnh thường kéo dài từ 7 – 10 ngày là khỏi hẳn, nếu kéo dài hơn dễ gây nên các biến chứng, nhất là vào tuần thứ hai, thứ ba như: thấp khớp, thấp tim, viêm cầu thận cấp, bệnh viêm tấy quanh amiđan, viêm tai, viêm xoang, viêm thanh quản, viêm phế quản,…

Ở trẻ em, khi bị viêm họng cấp, ngoài những biến chứng kể trên, nguy hiểm nhất có thể gây bệnh thấp tim, thấp khớp và viêm cầu thận ở trẻ em, do liên cầu trùng bê-ta tan máu nhóm A, từ viêm họng kích thích cơ thể sản xuất ra các chất kháng thể gây ảnh hưởng đến tim, khớp và cầu thận.

Khi bị biến chứng viêm họng do liên cầu khuẩn, trẻ có các dấu hiệu sốt, đau họng, ho, tiếp đến là sưng, nóng các khớp, đặc biệt là sưng khớp gối, và chạy từ khớp này sang khớp khác.

Sưng khớp và khớp di chuyển là một yếu tố quan trọng để nhận biết nguy cơ bị thấp tim. Và một biến chứng phổ biến nhất là chuyển từ viêm họng cấp tính trở thành viêm họng mãn tính, đây là cơ hội để bệnh tái đi tái lại nhiều lần.

Triệu chứng, dấu hiệu trẻ bị viêm họng

Trẻ bị viêm họng

Bị viêm họng bao lâu thì khỏi?

Bệnh viêm họng ở trẻ thường khởi phát đột ngột với biểu hiện sốt cao 30-40oC, người mệt mỏi. Khám họng thấy có mủ trắng bẩn ở khe, hốc amiđan hai bên. Sờ thấy hạch dưới hàm cả hai bên, di động, ấn đau. Bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao khi lấy máu làm xét nghiệm.

Trẻ bị viêm họng thường kèm theo quấy khóc, kém bú, chán ăn nên cha mẹ dễ nhầm tưởng đó là những dấu hiệu khó chịu khi bé mọc răng. Nếu bé sốt cao, nhịp thở nhanh, chảy dãi nhiều thì nên đưa đi khám. Với trẻ dưới 3 tháng tuổi, đưa đi khám ngay khi bé xuất hiện dấu hiệu bị sốt. Bé khoảng 3-6 tháng tuổi, sốt đến khoảng 38,3 độ C là nghiêm trọng. Bé trên 6 tháng tuổi sốt ở mức 39 độ C thì cần cảnh báo.

Nếu bé bị đau cả ở khoang miệng, bạn nên đưa đi kiểm tra. Đưa đi khám nếu bé dưới 3 tháng tuổi sốt đến 38 độ C hoặc hơn. Cũng nên đưa bé đi khám sớm nếu cổ họng có dấu hiệu bất thường như sưng (tấy) đỏ; nghi ngờ bé nuốt phải dị vật (bé không thể mở to miệng vì đau); hơi thở trở nên khó nhọc; kém bú (ăn) và quấy khóc liên tục.

Trường hợp nhập viện khẩn cấp thường khá hiếm. Đó là tình huống bé bị nhiễm khuẩn cổ họng tới mức không thể ăn, uống được bất kỳ thứ gì; bé khó thở, sốt cao và chảy dãi liên tục. Không nên cố ép bé ngồi xuống, mở to miệng để kiểm tra; cũng tránh ép bé phải ăn, uống vì chỉ khiến bé khó thở hơn. Tốt nhất, nên đưa bé đi khám sớm.

Trường hợp đau họng nhẹ, bác sĩ có thể chỉ định điều trị bằng thuốc; nếu không dùng thuốc, hệ miễn dịch của bé sẽ tự “chiến đấu” với virús gây bệnh và chiến thắng chúng trong vòng vài ngày đến một tuần. Trong khoảng thời gian này, bé cần được nghỉ ngơi, chăm sóc bằng những loại thức ăn mềm, dễ tiêu hóa.

Nếu nghi ngờ bé bị nhiễm khuẩn, bác sĩ có thể chỉ định dùng kháng sinh cho bé. Tùy từng loại bệnh, bác sĩ sẽ cho bé dùng thuốc cụ thể. Cha mẹ nên tuân thủ nghiêm ngặt việc dùng thuốc cho con vì nếu tự ngưng thuốc giữa chừng, vi khuẩn có khả năng tấn công trở lại và khiến họng của bé bị đau trầm trọng hơn.

Trẻ bị viêm họng phải làm gì?

– Nếu bé đã bước vào tuổi ăn dặm thì đồ uống ấm, trà (loại dành riêng cho bé) hoặc nước luộc rau có thể làm dịu ổ họng bị đau. Không nên thêm mật ong vào trà cho đến khi bé được khoảng một tuổi, vì mật ong chứa bào tử gây độc có thể ảnh hưởng xấu đến hệ tiêu hóa của bé. Cũng có thể cho bé uống nước lọc hoặc nước táo ép mát.

– Nếu trẻ bị viêm họng nặng, bố mẹ nên trao đổi với bác sĩ để sử dụng thuốc giảm đau cho bé (thường là acetaminophen và ibupronfen). Tuyệt đối không cho bé uống aspirin vì nó có liên quan đến hội chứng Reye ở bé.

Cho bé uống thuốc đúng cách

Trẻ bị viêm họng

Đa số các bậc cha mẹ đều cảm thấy rất khó khăn và vất vả khi cho con nhỏ uống thuốc. Vài bí quyết nhỏ dưới đây có thể giúp bạn làm việc này đơn giản hơn:

– Bạn nên cho bé uống thuốc cách xa bữa ăn nếu không muốn bé nôn sẽ ra hết cả phần thức ăn đó.
– Chỉ cho bé uống thuốc khi thật sự cần thiết.
– Báo với bác sĩ “khẩu vị” của bé (thích chua, ngọt, mùi dâu, táo…) để họ có thể cho bé những loại thuốc có mùi vị mà bé thích.
– Cho bé uống thuốc từ từ, từng chút một. Nếu bé nôn ra thì cho uống lại liền sau đó. Đối với những bé còn ẵm ngửa thì cha mẹ nên cho uống thuốc bằng xilanh, bơm từng chút một để bé nuốt dần. Khi bé lớn hơn, có thể dụ bé bằng cách đút một muỗng thuốc kèm theo sau muỗng thức ăn mà bé thích.
– Có bé rất thích bắt trước người lớn nên cha mẹ nên làm ra vẻ cùng uống thuốc với trẻ.
– Hoan hô, tán thưởng bé sau mỗi muỗng thuốc uống vào thành công.
– Không pha thuốc vào sữa, vào thức ăn để lừa bé. Tránh trường hợp bé sợ thuốc, sợ luôn thức ăn và sữa.
– Những bé còn quá nhỏ chỉ có thể uống các loại thuốc ở dạng bột, siro hoặc viên sủi. Do đó cha mẹ nên tán nhuyễn thuốc trước khi cho bé uống, nếu không trẻ dễ bị sặc.
– Với những bé khó nạp thuốc bằng đường uống (trẻ luôn nôn ra với bất kỳ loại thuốc nào) thì cha mẹ nên cho bác sĩ biết để tìm giải pháp khác như nhét vào hậu môn hoặc thuốc tiêm.Trẻ bị viêm họng

Cách phòng tránh trẻ bị viêm họng

– Vi khuẩn và virus có thể là thủ phạm gây đau họng cho bé. Bạn nên vệ sinh bàn tay của bé thường xuyên (vì các bé có thói quen mút tay – mầm bệnh sẽ theo đó vào khoang miệng).

– Nếu bé đã bước vào tuổi ăn dặm, cha mẹ nên sắm dụng cụ nấu ăn riêng cho bé (không chung đụng với người thân trong nhà). Vệ sinh bàn tay người lớn thường xuyên, nhất là mỗi lần thay tã cho bé.

– Có thể dùng máy điều hòa nhiệt độ trong phòng bé nhưng nên lưu ý cách sử dụng để không khiến bé bị viêm họng:

+ Không nên đặt bé nằm ở nơi có luồng gió trực tiếp. Nhiệt độ lý tưởng trong phòng của bé nên được duy trì ở mức 24-26oC.
+ Khi không sử dụng điều hòa, nên mở phòng của bé cho thoáng khí. Nên thường xuyên vệ sinh điều hòa để tránh nhiễm bẩn.

– Sử dụng quạt hợp lý: Tương tự như điều hòa, không nên để quạt thốc trực tiếp vào vùng mặt của bé. Có thể bật quạt hướng thẳng vào tường, phía chân của bé khi bé ngủ. Ở vị trí này, hơi mát từ quạt có thể lan tỏa khắp phòng và khiến bé ngủ ngon.

– Nếu bé ngủ chung giường với bố mẹ, có thể bật và cho quạt quay nhẹ bên ngoài màn. Tốt nhất, người lớn nên nằm ngoài (tiếp xúc trực diện với hướng gió) và để bé ngủ ở vị trí bên trong. Nhiều người mẹ chọn cách quạt tay cho bé trong những ngày nhiệt độ không quá cao.

– Không nên để bé quá nóng. Nhiều người mẹ lo con bị lạnh, dễ viêm họng nên tìm cách ấp ủ bé quá nóng như mặc áo dài tay hoặc đắp chăn cho bé trong thời tiết mùa hè. Khi ấy, bé có khả năng dễ bị toát mồ hôi. Lượng mồ hôi này không được thoát ra bên ngoài, dễ hấp thu ngược lại cơ thể bé nên càng khiến bé có khả năng bị viêm họng.

– Tránh thay đổi nhiệt độ đột ngột. Đưa bé từ môi trường nóng sang môi trường lạnh một cách đột ngột có thể khiến bé bị đau họng. Do đó, trước khi đưa bé từ trong phòng có điều hòa nhiệt độ ra bên ngoài, bạn nên chuyển bé sang một phòng khác có quạt mát khoảng 10-15 phút; cuối cùng, bạn mới nên đưa bé ra ngoài trời.

– Không tắm sau khi bé vận động hoặc đổ nhiều mồ hôi. Nếu tắm ngay sau khi bé ra nhiều mồ hôi thì trẻ dễ bị viêm họng hoặc mắc chứng cảm lạnh, do sự thay đổi thân nhiệt đột ngột.Trẻ bị viêm họng

– Nên lưu ý đến việc sử dụng bàn chải và cách vệ sinh răng, miệng cho bé. Những loại vi khuẩn cư trú trên bề mặt bàn chải có khả năng gây các chứng bệnh trong khoang miệng của bé. Trước mỗi lần đánh răng, bạn nên nhúng bàn chải của bé vào một cốc nước ấm, có pha muối nhạt. Cách này cũng giúp loại bỏ phần nào vi khuẩn gây bệnh có trong bàn chải. Sau khi bé đánh răng, bạn nên cho bé súc miệng bằng nước muối ấm, pha nhạt.

– Hạn chế cho bé dùng đá lạnh, ăn kem hoặc uống nước lạnh. Đây được coi là một trong những món ăn khoái khẩu của các bé. Các loại nước uống và đồ ăn lạnh nếu được dùng thường xuyên sẽ gây chứng viêm họng cho bé.

– Chú ý những kỳ nghỉ mát dành cho bé. Nếu ngâm mình trong bể bơi hoặc khu vực nước biển liên tục (nhiều giờ liền) có thể khiến các bé mắc bệnh về hô hấp.

– Những tác nhân từ môi trường xung quanh như khói thuốc lá, khói than tổ ong, bụi bẩn, lông chó (mèo), phấn hoa… cũng khiến tình trạng viêm họng của bé trầm trọng hơn. Vì vậy cần giúp bé tránh xa các tác nhân này.

– Thói quen xấu: Qua điều tra người ta nhận thấy 80% số trẻ hay bị tái diễn các đợt viêm mũi họng thường ra ngoài trời sau 20 giờ hoặc bố mẹ cho đi đến những chỗ đông người, nhất là khi trẻ dưới 3 tuổi, đây là tuổi mà trẻ đã hết miễn dịch của mẹ và đang trong giai đoạn tự đề kháng nên rất dễ nhiễm bệnh từ người khác.

– Việc phòng tránh viêm mũi họng tái diễn cho trẻ có thể thực hiện nếu người chăm sóc trẻ được tư vấn đúng các nguyên nhân và yếu tố thuận lợi dẫn đến việc trẻ bị bệnh để họ biết và làm theo hướng dẫn. Câu nói “phòng bệnh hơn chữa bệnh” không bao giờ lạc hậu, tránh được việc phải sử dụng thuốc cho trẻ trong lúc các cơ quan đào thải chất độc như gan, thận… của trẻ chưa phát triển toàn diện.

Các mẹ lưu ý: Khi trẻ bị viêm họng cấp sẽ sốt rất cao, lên đến 39, 40 độ. Bệnh thường tiến triển trong vòng 3,4 ngày sau đó trở lui. Không có thuốc đặc trị bệnh viêm họng cấp mà chỉ có thể điều trị triệu chứng, chăm sóc, nâng đỡ trẻ khi trẻ bị bệnh. 

from Healthyblog https://ift.tt/37WWZs8

Trẻ Bị Nhiễm Giun Kim; Giun Móc – Các Dấu Hiệu Nhận Biết Và Điều Trị

Trẻ bị nhiễm giun kim thường chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các loại bệnh nhiễm giun đường ruột. Bệnh nhiễm giun kim có thể lây từ người này sang người khác và tái nhiễm cho bản thân. Mắc giun kim sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và gây nên một số hậu quả xấu, thậm chí gây biến chứng.

Giun kim: nguy cơ với trẻ và cách phòng ngừa giun kim

Giun kim là một loại ký sinh trùng sống phổ biến ở ruột non. Loại giun này có tên khoa học là Enterobius vermicularis, có thể lây từ người này sang người khác. gười là vật chủ duy nhất của giun. Trẻ em bị bệnh phổ biến hơn người lớn, tỷ lệ mắc bệnh cao ở những người đồng tính luyến ái nam.

Giun trưởng thành cư trú chủ yếu ở ruột non, sau đó chúng xuống ruột già. Chúng thường ở manh tràng và các đoạn ruột lân cận, nằm bám lỏng lẻo vào niêm mạc ruột.

Giun kim đực chết sau khi giao hợp. Giun cái đẻ trứng ở vùng niêm mạc hậu môn vào ban đêm, bò cả ra ngoài làm ngứa hậu môn, một con giun cái đẻ khoảng 4.000 – 200.000 trứng. Sau khi đẻ hết trứng, giun kim cái chết. Vì vậy tuổi thọ của giun kim rất ngắn, chỉ sống khoảng 1-2 tháng.

Giun kim

Trứng giun kim phát triển rất nhanh. Trứng đẻ ra sau 4-8 giờ đã phát triển thành trứng có ấu trùng, theo phân ra ngoài. Nếu người ăn phải trứng có ấu trùng, ấu trùng sẽ theo đường tiêu hoá vào dạ dày. Một số còn dính ở hậu môn, ngó ngoáy ở hậu môn gây ngứa và khi em bé lấy tay gãi, chúng bám vào móng tay em bé và khi em bé mút tay, chúng liền theo vào miệng rồi vào dạ dày của em bé.

Vào đến dạ dầy, ấu trùng phá vỡ vỏ trứng để phát triển thành giun, rồi di chuyển xuống ruột non vàtrưởng thành. 3-4 tuần sau chúng di chuyển xuống ruột già.

Một số trứng ở vùng hậu môn có thể trở thành ấu trùng, ấu trùng chui vào hậu môn lên ruột để phát triển, do đó, việc tái nhiễm giun kim rất dễ dàng.

Triệu chứng nhiễm giun kim ở trẻ em

Trên thực tế, nhiều người tuy bị nhiễm giun kim nhưng lại không có triệu chứng gì. Triệu chứng hay gặp và quan trọng nhất là ngứa vùng hậu môn (nhất là về ban đêm). Do giun cái ra rìa hậu môn để đẻ trứng, gây ngứa, có khi gây sưng tấy quanh hậu môn.

Bệnh nhân bị mất ngủ, bực dọc, đái dầm và bồn chồn nhất là trẻ em; đi ngoài phân thường nát hoặc lỏng, đôi khi có máu hoặc chất nhầy, cũng có khi tiêu chảy. Trẻ em mắc bệnh thường chán ăn hoặc ăn không tiêu, buồn nôn hoặc nôn, đau bụng âm ỉ, da xanh, có thể bị còi xương, suy dinh dưỡng, chậm lớn. Cần lưu ý những triệu chứng nguy hiểm sau:

– Ban đêm giun bò ra hậu môn và đẻ trứng ở đấy khiến cho các em bé ngứa gãi không chịu nổi, có khi trầy cả hậu môn.

– Ở một số bé gái, giun chui vào âm hộ đẻ trứng làm trẻ ngứa, bứt rứt, hay khóc đêm, nghiến răng.

– Có khi giun kim chui vào âm đạo quý bà đẻ trứng gây ngứa, viêm dễ lầm với chứng viêm âm đạo, chỉ khi khám phụ khoa, thấy sự hiện diện của vài chị giun kim mới biết rằng do giun kim gây nên.

– Giun kim cũng có thể vào phổi, thực quản, hốc mũi, cổ tử cung và gây viêm các cơ quan này.

– Gây rối loạn tiêu hoá: thường bị đau bụng, ảnh hưởng đến quá trình tiêu hoá và hấp thu thức ăn, nhất là ở trẻ nhỏ.

– Gây kích thích: Giun kim thường di động nên thường gây ra những kích thích, nhất là những kích thích thần kinh đối với trẻ nhỏ như gây đaí dầm, ngủ hay bị giật mình, hoảng sợ.

– Giun kim có thể gây viêm ruột thừa, làm thủng ruột…

Bệnh giun kim cần phân biệt với các bệnh khác như sau: ngứa quanh hậu môn do giun kim cần phân biệt với các loại ngứa do nhiễm nấm, dị ứng, trĩ, viêm trực tràng, nứt trực tràng, bệnh giun lươn…

Điều trị nhiễm giun kim

Bệnh nhiễm giun kim, nếu không tái nhiễm, chỉ sau 2 tháng là hết vì giun trưởng thành chỉ sống tối đa 2 tháng, vì vậy khi điều trị, cần chú ý tránh để tái nhiễm và tránh lây hàng loạt.

Có thể dùng một trong các thuốc sau đây để điều trị và dùng liều nhắc lại sau 2 và 4 tuần. Albendazol, mebendazol có thể uống trong bữa ăn hoặc vào bất cứ lúc nào. Chú ý không sử dụng thuốc albendazol và mebendazol cho phụ nữ có thaiTrẻ bị nhiễm giun sán

Có thể điều trị bằng các vị thuốc sau:

– Tỏi giã nát 50g, rượu ½ lít, ngâm 1 tháng. Uống sáng thức dậy lúc đói bụng và tối đi ngủ. Mỗi lần 10 giọt, trong 10 ngày liền. Trẻ nhỏ uống ½ liều trên (Theo: Những Cây Thuốc Vị Thuốc Việt Nam).

– Rau Sam tươi 50g, rửa sạch, thêm ít muối, giã nát, vắt lấy nước, thêm ít đường vào cho dễ uống. Uống liên tục 5-7 ngày vào buổi sáng sớm, lúc bụng đói (Theo: Những Cây Thuốc Vị Thuốc Việt Nam).

– Lá Lộc ớt tươi 40g, nấu canh với thịt, cá, ăn vào bữa ăn chiều, giun sẽ ra vào sáng hôm sau (Theo: Những Cây Thuốc Vị Thuốc Việt Nam).

Thuốc rửa

Dùng 2-3 lá Trầu, Phèn chua một ít, pha vào một ít nước sôi cho thấm thuốc, dùng thuốc này bôi vào hậu môn để rửa sạch tất cả trứng, tráng việc trứng tái phát triển (Theo: Những Cây Thuốc Vị Thuốc Việt Nam).

Phòng ngừa nhiễm giun kim cho trẻ như thế nào

  • Cắt đứt chu kỳ sinh trưởng trứng giun bằng cách giữ vệ sinh cá nhân: Rửa tay trước khi ăn, sau khi đi tiêu, tiểu, cắt ngắn móng tay.
  • Không cho trẻ mút tay. Nên cắt ngắn móng tay và giữ sạch sẽ, tránh gãi vùng quanh hậu môn.
  • Không cho trẻ mặc quần thủng đít, không cho cởi truồng. Cha mẹ cần rửa sạch hậu môn cho trẻ.
  • Nên lau nhà thường xuyên. Định kỳ giặt ga trải giường, chăn màn cũng có tác dụng diệt trứng giun.
  • Nên khám sức khỏe định kỳ để phát hiện và tẩy giun đúng cách. Khi xác định có triệu chứng của nhiễm giun kim cần phải điều trị.
  • Nên điều trị cho tất cả các thành viên trong gia đình.

Trẻ bị nhiễm giun móc: Triệu chứng và cách chữa trị

Giun móc là một loại ký sinh trùng nguy hiểm có thể xâm nhập vào cơ thể qua da. Giun móc hút máu ở tá tràng và tiết ra độc tố ức chế cơ quan tạo máu, dẫn đến thiếu máu kéo dài, người bệnh cũng có thể có các rối loạn thần kinh như nhức đầu, dễ quên, giảm trương lực cơ… Bệnh đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em.

Triệu chứng nhiễm giun móc

Giun móc thể hiện theo 3 thời kỳ tiến triển: Triệu chứng ngoài da lúc giun mới xâm nhập vào cơ thể, triệu chứng khi giun vào qua bộ máy hô hấp và thời kỳ toàn phát khi giun đã vào đến ruột và cư trú luôn tại đấy.Giun kim

Giai đoạn xâm nhiễm

Trứng giun móc theo phân ra đất, gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, độ ẩm và loại đất sẽ nở thành ấu trùng, sống ở đất nhiều tuần lễ. Gặp người, ấu trùng chui qua da, thường ở mu bàn chân, kẽ ngón chân, gây ra những nốt mẩn đỏ, ngứa, có khi bị viêm thành nốt mọng nước. Nơi ấu trùng nhập vào (kẽ ngón chân, tay) bị phát ban, phù, giống như dạng đơn độc, rất ngứa, rồi lặn ngay, không để lại dấu tích gì, tuy nhiên vì ngứa gãi nên có thể thành bội nhiễm, thành các vết phỏng, có mủ, loét ra. Sau đó nổi mẩn lan dần mỗi ngày một ít trong vài ngày.

Giai đoạn lưu hành trong cơ thể

Khi qua phổi, không có một phản ứng gì của nhu mô phổi mà chỉ thấy viêm đỏ ở khí quản, thanh hầu, cổ họng, giống như người bị viêm họng, cảm cúm. Ấu trùng có thể gây ra viêm phổi, sốt, ho khan, ho cơn, ho không đờm, khan tiếng. Nếu ấu trùng qua phổi nhiều có thể gây ra những vết thâm nhiễm nhất thời, sốt thất thường và khó thở. Chứng trạng trên chỉ xuất hiện vài ngày rồi hết.

Giai đoạn định cư

Vào ruột, gây đau bụng, nôn, tiêu chảy, đau vùng thượng vị không có giờ giấc nhất định, tăng bạch cầu đa nhân ưa acid trong máu. Bệnh nhân gầy đi, hay nôn oẹ rồi tiêu chảy, lúc đầu lỏng sau có lẫn máu, tiến triển trong 2-3 tuần. Giun sống bằng máu hút của bệnh nhân nên tạo ra thiếu máu trầm trọng. Khi hút máu, giun móc còn tiết ra chất chống đông máu nên máu chảy nhiều. Ngoài ra, tuỷ xương còn bị ức chế bởi các chất độc của giun móc, vì vậy, giun móc gây ra thiếu máu nặng, nhất là khi số lượng giun móc ký sinh nhiều. Nhiều trường hợp bị giun móc nặng, hồng cầu chỉ còn dưới 1 triệu.

Giun móc sống hơn 4 năm, bệnh có thể khỏi tự nhiên nhưng cũng hay bị tái nhiễm kéo dài, có thể dẫn đến phù toàn thân, liệt tim và tử vong.

Nguyên nhân gây nhiễm giun móc

Do hai loại Ankylostoma Duodenal và Necator Americanus gây nên.

Giun móc ký sinh chủ yếu ở tá tràng, ngoài ra có thể ở phần đầu ruột non. Giun móc cắn sâu răng móc vào niêm mạc ruột để hút máu và để khỏi bị tống ra ngoài. Giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện nhiệt độ 15 ~30 độ C, độ ẩm cao, trứng giun phát triển rất nhanh, sau 24 giờ trứng nở thành ấu trùng. Ấu trùng phát triển thích hợp ở những nơi đất xốp, ẩm, đất pha cát, than, đất mùn. Khi ấu trùng đã phát triển đến giai đoạn có khả năng gây nhiễm, ấu trùng thường tìm đến những vị trí cao nhất, chỗ có giọt nước, nơi nhiệt độ 35 ~37 độ C. Trứng và ấu trùng dễ chết trong môi trường nước, ánh sáng mặt trời, trong điều kiện khô, độ mặn cao.Giun kim

Điều trị nhiễm giun móc cho trẻ em

Cần điều trị giun kết hợp với điều trị thiếu máu. Loại thuốc và liều điều trị giống như với giun đũa: levammisol, mebendazol, albendazol… Thuốc didakên chỉ dùng cho người lớn và trẻ em từ 16 tuổi trở lên, liều dùng 0,1 ml/kg (không quá 4 ml), uống vào lúc sáng sớm lúc đói, cứ 5 phút uống 1 ml, sau khi uống lần cuối cùng thì dùng thêm một liều thuốc tẩy muối.

Cách phòng tránh bệnh giun móc

Để phòng bệnh, cần quản lý và xử lý nguồn phân bảo đảm vệ sinh, làm sạch ngoại cảnh, diệt ấu trùng bằng cách rắc vôi bột ở những nơi ô nhiễm nặng (quanh hố xí, vườn rau…). Tránh ấu trùng nhiễm vào người bằng cách hạn chế tiếp xúc với đất. Đối với người lao động có nguy cơ cao ô nhiễm giun móc (làm việc dưới hầm lò, hay tiếp xúc với phân đất…), cần có phương tiện bảo vệ: đi ủng, đeo găng tay cao su.

Trẻ từ 1 tuổi đã có thuốc tẩy giun

Một độc giả tâm sự về những lo lắng khi con dưới 2 tuổi bị giun: “Bin nhà em mới 19 tháng, mấy hôm nay cứ khóc quấy suốt, nhất là ban đêm. Con ăn uống cũng không được tốt. Tối hôm qua thì đi ngoài phân lỏng. Lúc thay bỉm cho con, em ‘tá hoả’ khi thấy loe ngoe trong bịch bỉm vừa thay một con nhỏ nhỏ màu trắng lẫn trong phân. Hai vợ chồng cùng cầm đèn pin săm soi một lúc thì kết luận rằng đấy đích thị là một…con giun. Em sợ quá”.

Trao đổi với chúng tôi, PGS, TS Nguyễn Tiến Dũng (Trưởng Khoa Nhi – Bệnh viện Bạch Mai) cho biết: “Trước kia, thuốc tẩy giun quy định chỉ dùng cho trẻ từ 2 tuổi trở lên. Hiện tại, có thuốc tẩy giun kim dùng được cho trẻ từ 1 tuổi trở lên là Pyrantel. Hiện nay, thuốc tẩy giun cũng không giống như trước đây, thuốc không gây mệt mỏi, chỉ diệt giun ở ống tiêu hóa và thấm vào máu vô cùng ít ”.Giun kim

Theo bác sĩ Dũng, hiện tại, có thể thấy, nhiều em bé sống ở thành phố, nhà cao tầng sạch sẽ, điều kiện vệ sinh tốt, hầu như ít bị nhiễm giun. Cho nên, việc tẩy giun 6 tháng/lần có thể chỉ áp dụng cho những bé hay tiếp xúc với đất cát, điều kiện vệ sinh kém. Tiến hành tẩy giun với những bé khi ị ra giun, vạch hậu môn trẻ thấy có giun kim hoặc đi khám bác sĩ bị nghi ngờ nhiễm giun, xét nghiệm phát hiện giun trong phân.

“Trẻ bị nhiễm giun sẽ hay rối loạn tiêu hóa, đau bụng vặt, buồn nôn, thậm chí đôi khi nôn. Có một số trẻ bị nhiễm giun nặng thì suy dinh dưỡng. Nếu nhiễm giun tóc, giun móc sẽ gây thiếu máu. Những bé bị thiếu máu sẽ kém ăn, da xanh xao. Nếu thiếu máu nặng quá gây mệt mỏi, đi học thiếu tập trung, trí nhớ giảm, hoa mắt chóng mặt, tim đập nhanh”, bác sĩ Dũng khuyến cáo.

Nếu giun quá nhiều gây tắc ruột, thậm chí đi ngược lên mật gọi là giun chui ống mật gây viêm đường mật. Thậm chí, nếu giun lên đường mật sâu quá gây áp xe gan, áp xe đường mật. Tuy nhiên, hiện nay, điều kiện vệ sinh tốt nên các hiện tượng này cũng ít hơn.

Bác sĩ Dũng nói thêm: “Khi cho trẻ uống thuốc giun, phụ huynh phải theo dõi xem phân có chứa giun không. Đặc biệt, theo dõi sát để phát hiện những bất thường của trẻ sau khi uống thuốc. Nếu có hiện tượng nôn, lả đi thì phải đưa ngay đến cơ sở y tế. Trước khi tẩy giun cho trẻ nên tham khảo ý kiến bác sĩ. Với trường hợp sống ở môi trường sạch sẽ thì không nên tự tiện tẩy giun”.

Để tránh trẻ bị nhiễm giun, phụ huynh chú ý môi trường sạch sẽ, không cho trẻ tiếp xúc với đất cát, không để trẻ mút hay ngậm tay. Lưu ý rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh. Đồ chơi dành cho trẻ nếu rửa được cũng nên vệ sinh thường xuyên.

Bé gái 31 tháng tuổi bị nhiều giun kim

Chào Bác sĩ! Cho cháu hỏi bé gái 31 tháng tuổi vừa tẩy giun tháng 2 rồi mà vẫn có nhiều giun kim. Giun kim còn chui vào bộ phận sinh dục của bé nữa. Giun chui như vậy có nguy hiểm không? Làm gì để hết bị giun chui như vậy. Hạt bí đỏ nên ăn sống hay chín để trị giun kim. Ngoài ra có loại thực phẩm hay bài thuốc nào chữa hết giun kim không ạ?Xin cảm ơn Bác sĩ.

PGS.TS Nguyễn Ngọc Sáng-Chuyên khoa Nhi-Trường Đại học Y – Dược Hải Phòng

Chào bạn.

Nhiễm giun kim là bệnh rất phổ biến ở trẻ em nhưng nó ít gây hại và cũng dễ dàng loại trừ. Những con giun trông như những sợi chỉ có chiều dài từ 2 – 13mm và có thể sống tới 6 tuần trong ruột. Trẻ bị nhiễm giun qua trứng giun bám vào đồ chơi, bàn tay và kẽ móng tay. Trứng giun sẽ nở trong ruột và những con giun cái sẽ đẻ trứng ở hậu môn để tiếp tục vòng sinh tồn của mình. Một liều thuốc tẩy giun sẽ chấm dứt vòng sinh tồn này và tốt nhất là cả nhà cùng uống.

Giun kim sống khoảng 5 – 6 tuần trong ruột rồi chết. Tuy nhiên, trước khi chết, những con giun cái sẽ bò ra hậu môn đẻ trứng vào buổi đêm khi trẻ đang ngủ. Trứng giun kim nhỏ đến mức chỉ có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi nhưng nó lại gây ngứa ở khu vực này. Khi đó, theo phản xạ, trẻ sẽ gãi để xoa dịu cảm giác ngứa ngáy ở đây. Kết quả là trứng giun sẽ bám vào các ngón tay và trú ẩn dưới các kẽ móng tay. Và số trứng này sẽ có cơ hội chui vào ruột khi trẻ cho tay vào miệng. Trứng giun có thể tồn tại ngoài cơ thể tới 2 tuần. Vì thế, chúng bám vào da, rơi ra giường, quần áo… chúng có thể lơ lửng trong không khí như những hạt bụi, bám vào thực phẩm. Vì thế trẻ nhỏ dễ bị nhiễm giun kim khi chơi với trẻ mang giun kim trên bàn tay hay từ thực phẩm, đồ uống…. Bất kỳ quả trứng nào khi chui được vào trong ruột sẽ lập tức nở thành giun con và tiếp tục vòng đời của mình.Giun kim

Nhiễm giun kim có nguy hiểm không? Điều khó chịu nhất là nó gây ngứa vùng hậu môn và có thể khiến vùng này bị viêm vì chầy xước do gãi. Nếu bị nhiễm nhiều giun kim, có thể gây đau bụng và làm trẻ trở nên cáu kỉnh. Đối với các bé gái, giun kim có thể ra đẻ trứng ở âm đạo hay niệu đạo.

Điều trị và phòng ngừa: Cách phổ biến là dùng thuốc tẩy giun và vệ sinh hậu môn mỗi sáng để “quét” sạch trứng bám quanh khu vực này. Chúng tôi không có kinh nghiệm dùng hạt bí đỏ để chữa giun kim. Nhưng theo chúng tôi bạn có thể mua thuốc tẩy giun cho trẻ như Mebendazol, Fugacar…thuốc tẩy giun hiện nay thường rất an toàn và tiện lợi.

Ngoài dùng thuốc tẩy giun bạn nên áp dụng biện pháp vệ sinh nhằm loại trừ trứng giun bám trên cơ thể trẻ và trong nhà sẽ giúp trẻ không bị tái nhiễm giun sau tẩy giun.

Mọi thành viên trong gia đình cần thực hiện những việc dưới đây trong vòng 2 tuần kể từ sau khi uống thuốc tẩy giun: Mặc quần lót vào buổi tối để nếu có gãi vô thức, tay cũng không chạm trực tiếp vào vùng da quanh hậu môn. Cắt ngắn móng tay. Rửa tay và móng tay mỗi sáng. Rửa tay trước khi ăn, trước khi nấu nướng và sau khi đi vệ sinh. Nên vệ sinh hậu môn mỗi sáng để rửa trôi toàn bộ số trứng giun đã được đẻ trong đêm. Cần thực hiện điều này ngay lập tức khi ra khỏi giường.Thay và giặt quần lót hằng ngày. Tránh giũ quần áo và chăn ga vì có thể khiến trứng giun bay lơ lửng trong không khí. Vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, đặc biệt là nơi trẻ thường chơi.

Ngoài ra, trẻ có thể nhiễm giun kim khi đi học do nhà vệ sinh không sạch sẽ. Cách phòng ngừa duy nhất là tạo thói quen cho trẻ rửa tay sau khi đi vệ sinh, trước khi ăn.

Chúc cháu và gia đình bạn luôn mạnh khỏe

from Healthyblog https://ift.tt/31oQufc

Trẻ Bị Nhiễm Giun, Sán Làm Sao Phát Hiện? Nguy Hiểm Không

Trẻ bị nhiễm giun, sán thườngbiểu hiện không rõ nét như nhiều bệnh truyền nhiễm cấp tính hay các nguy cơ khác, nên chưa được các bậc phụ huynh quan tâm đúng mức.

Thế nhưng, các mẹ có biết bệnh nhiễm giun sán đường ruột ở trẻ em có thể gây ra nhiều tác hại nguy hiểm cho bé cưng của mình như: biếng ăn, chậm lớn gây sa sút tinh thần và trí tuệ, hoặc giun chui vào các bộ phận của cơ thể gây tắc ruột, viêm túi mật, viêm vùng kín …

Mời các mẹ tham khảo những tư vấn dưới đây của các bác sĩ giàu kinh nghiệm về bệnh nhiễm giun đường ruột ở trẻ em nhé.

Làm sao nhận biết trẻ bị nhiễm giun sán?

Trẻ bị nhiễm giun sán

Giun có thể bị nhiễm qua đường ăn uống, do ăn thức ăn không sạch, chưa chín kỹ, uống nước chưa đun sôi, ăn các loại rau sống chưa được rửa sạch, qua bàn tay bẩn, qua nguồn nước không vệ sinh, qua sinh hoạt hàng ngày tiếp xúc trực tiếp với môi trường đất và qua cả nguồn không khí bị ô nhiễm, trẻ có thể bị nhiễm giun khi đưa đồ chơi bẩn vào miệng, cầm nắm thức ăn không rửa tay sau khi đi đại tiện.

Dấu hiệu trẻ bị nhiễm giun sán:

Trẻ ở tuổi nhà trẻ, mầm non dễ mắc giun kim. Một trẻ bị mắc giun kim khi bò hoặc ngồi chơi dưới đất, trứng giun kim sẽ rơi ra đất rồi theo tay hoặc đồ chơi vào miệng. Như vậy, trẻ dễ làm lây sang nhau hoặc tự làm cho mình bị nhiễm trứng giun của chính mình.

Cha mẹ có thể nhận biết trẻ bị nhiễm giun qua một số biểu hiện sau:

– Về tiêu hóa: Trẻ ăn uống kém, hoặc có trường hợp vẫn ăn tốt nhưng không tăng cân. Đau bụng vùng quanh rốn hoặc thành cơn ở hố chậu phải. Trẻ có nhiều giun đũa thì thường đau khi đói. Trẻ có thể nôn trớ, có thể có biểu hiện lợm giọng buồn nôn lúc buỏi sáng ngủ dậy. Một số trẻ có thế có biểu hiện đi tướt. Khi có quá nhiều giun có thể thấy nôn hoặc đi ngoài ra giun.

– Trẻ có biểu hiện thiếu máu, da dẻ xanh xao.

– Trẻ có kém ngủ, đêm ngủ hay trằn trọc, có thể hay nằm sấp, kém tập trung chú ý.

– Nếu bị nhiễm giun kim trẻ có thêm biểu hiện ngứa hậu môn, hậu môn có thể bị viêm đỏ, bé gái có thể bị viêm âm đạo.

– Một số trẻ có biểu hiện sốt, ho, mệt mỏi, kém ăn do ấu trùng di chuyển ở phổi

– Xét nghiệm máu thấy lượng bạch cầu ưa axit tăng.

– Xét nghiệm phân thấy trứng giun.

Sán. Trẻ bị nhiễm sán thường do ăn thịt bò hoặc một số loại thịt đỏ chưa nấu chín. Trẻ có sán thường đi ngoài ra những đoạn sán nhỏ màu trắng. Những đoạn này có chứa rất nhiều trứng ở bên trong. Cha mẹ có thể thấy những khúc sán như thế ở quần, ở trên giường của trẻ.

Trẻ bị nhiễm giun sán

Nhìn chung: Trẻ thường gầy gò, ốm yếu, xanh xao, bụng to bè, chậm lớn, biếng ăn, dễ nôn mửa. Ngoài ra, bé thường xuyên đau bụng quanh rốn, bị rối loạn tiêu hóa, đi phân lỏng. Mẹ có thể phát hiện thêm dấu hiệu bé bị nhiễm giun dựa vào thói quen trằn trọc, gãi hậu môn do ngứa trong lúc ngủ.

Nếu không phát hiện bệnh và tẩy giun cho bé kịp thời, hậu quả để lại rất nguy hiểm. Giun có thể chui vào ống mật làm tắt ống mật, chui vào mạch máu, qua gan qua phổi… Sức khỏe và sự phát triển thể chất của trẻ vì thế mà bị ảnh hưởng trầm trọng.

Nguy cơ khi trẻ bị nhiễm giun sán

Bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Hương, Bệnh viện Nhi đồng 2 khuyến cáo, để điều trị giun sán thì rất tốn kém, phải tốn nhiều tỷ đồng, điều đó đang thực sự là gánh nặng cho xã hội cũng như gia đình.

Bên cạnh đó, khi nhiễm giun sán, thì ngoài hao tốn tiền bạc để phòng ngừa, giun sán còn gây hậu quả rất nghiêm trọng ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ em, người lớn thậm chí có thể tử vong.

Ở phụ nữ trưởng thành và ở độ tuổi sinh sản thì nhiễm những loại giun truyền qua đất có thể ảnh hưởng đến sức khỏe thai nhi, có thể gây dị tật cho thai nhi, sanh non, sanh ra trẻ thiếu cân, thậm chí có thể tử vong cả mẹ lẫn trẻ sơ sinh.

Đối với trẻ em:

– Giun sán có thể tiết ra các loại độc tố, hoặc thải ra các sản phẩm chuyển hóa gây độc cho cơ thể.

– Tác hại cơ học: giun tóc, giun móc bám vào niêm mạc ruột gây viêm loét ruột, thậm chí gây chảy máu rỉ rả, nhiều bé bị thiếu máu có khi phải truyền máu. Giun đũa có thể gây tắc ruột, tắc mật, tắc ống tụy gây ra các triệu chứng đau bụng dai dẳng hoặc kịch phát, ói mửa, vàng da, viêm gan…

– Nang ấu trùng sán dây lợn (heo) tới não có thể gây động kinh, làm đột tử, nếu ký sinh ở mắt gây mù lòa.

– Giun chỉ bạch huyết gây phù voi da tắc mạch bạch huyết và việc điều trị cũng rất khó khăn.

– Sán lá phổi xâm nhập làm vỡ thành mạch máu phổi gây ho ra máu.

– Gây dị ứng cho vật chủ: giun đũa, giun tóc, đặc biệt giun xoắn gây dị ứng nặng, sốt cao, phù nề, tăng bạch cầu eosinophile.

– Giun kim khó chịu nhất: Bác sĩ Hoàng Lê Phúc – trưởng khoa tiêu hóa Bệnh viện (BV) Nhi Đồng 1, TP.HCM cho biết năm nào BV cũng gặp vài trường hợp trẻ em bị giun chui lên ống mật. Chưa kể có những bé gái bị nhiễm trùng đường tiểu được điều trị hoài bằng kháng sinh nhưng tình trạng không cải thiện. Nghi ngờ bệnh nhi bị giun kim bò qua âm đạo, các bác sĩ cho uống hai liều thuốc xổ giun thì hết bệnh.

Có bệnh nhi bị viêm phổi tái đi tái lại nhưng việc điều trị không mang lại hiệu quả, cũng chỉ vì trứng giun đũa… lâu lâu đi qua phổi. Theo bác sĩ Hoàng Lê Phúc, đó là một số biến chứng do giun đường ruột thường gặp như giun đũa, giun kim và giun móc gây ra cho trẻ.

Trẻ bị nhiễm giun sán

Trong đó giun kim là loại giun gây khó chịu nhất. Ban đêm, giun kim chui ra rìa hậu môn đẻ trứng khiến trẻ ngủ không được do ngứa hậu môn. Trẻ nhiễm giun kim thường bị rối loạn tiêu hóa với biểu hiện hay đau bụng, biếng ăn, buồn nôn, tiêu chảy; với trẻ nhỏ chưa biết gì thường nghiến răng khi ngủ, đái dầm, nằm hai chân hay khép chặt lại, gồng người… Một số trẻ lại có biểu hiện ngồi không yên, hay kéo cầu thang lết mông xuống.

Có khi giun đi lạc chỗ, bò qua âm đạo gây viêm đường tiểu, thậm chí viêm âm đạo, viêm vòi trứng… ở bé gái. Có khi giun chui lên ruột thừa gây viêm ruột thừa (hiếm gặp).

– Giun đũa: Nếu trẻ ăn thức ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh dễ nuốt phải trứng giun đũa vào cơ thể. Trước khi xuống ruột giun đi qua phổi và gây viêm phổi, với biểu hiện là trẻ bị ho. Khi giun đũa đi xuống ruột sẽ “tranh giành” thức ăn với trẻ nhỏ khiến trẻ bị đau bụng, suy dinh dưỡng, chậm lớn. Nếu giun đũa sống nhiều trong ruột có thể gây tắc ruột, thủng ruột, hoặc di chuyển lạc chỗ… vào ống mật gây tắc mật. Lúc đó trẻ sẽ đau bụng dữ dội, phải nội soi hoặc mổ để gắp ra. Có khi giun bò lên ống mật nhưng không chui ra được và chết ở đó, để lâu xác hóa thành sỏi cũng gây tắc mật.

– Giun móc: Với những trẻ mặc quần thủng đáy, không có đáy hoặc đi chân đất, lê la dưới đất rất dễ nhiễm giun móc. Giun móc có sẵn trong đất, xâm nhập vào người bằng cách chui qua da mỏng, theo máu đến tim, phổi và trở về ruột để trưởng thành, rồi đến tá tràng hút máu (một con giun móc có thể hút mất 0,2ml máu/ngày). Vì vậy, trẻ nhỏ nhiễm giun móc nhiều và kéo dài thường bị thiếu máu, thiếu sắt. Có khi giun móc bám vào mạch máu lớn gây xuất huyết tiêu hóa. Trẻ nhiễm giun móc thường có biểu hiện: đêm hay quấy khóc, da xanh xao, biếng ăn, ăn ít, nhức đầu, có thể đưa đến suy dinh dưỡng…

Ngoài ra giun sán cũng mở đường cho các vi khuẩn xâm nhập cơ thể vì nó làm giảm pH dịch vị dạ dày lám cho vi khuẩn dễ xâm nhập. Các loại giun móc, tóc có thể luồn qua da gây viêm da.

Đó mới chỉ là nói qua một số biến chứng thường gặp do giun sán gây ra chứ tùy tứng loại giun sán và từng giai đoạn bị nhiễm có các biểu hiện lâm sàng sẽ khác nhau.

Cách phòng tránh nhiễm giun sán ở trẻ

Bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Hương cho biết, điều quan trọng là làm thế nào để phòng ngừa không bị nhiễm giun sán và đặc biệt hơn cả là để tránh tái nhiễm vì nước ta khí hậu nhiệt đới, môi trường thuận lợi để giun sán phát triển, bên cạnh đó một số thói quen ăn các thực phẩm sống: gỏi cá, tiết canh, bò tái…ăn các loại rau thủy sinh còn sống, rau sà lách xoong, rau sống.

Muốn loại bỏ nguồn lây nhiễm thì người lớn phải là tấm gương của con trẻ, phải cương quyết loại bỏ những tập quán chưa hợp vệ sinh, phải ăn chín, uống sôi (nước nấu sôi để nguội), xử lý các chất thải sạch sẽ (không phóng uế bừa bãi). Phải đảm bảo 3 sạch: ăn sạch, uống sạch, ở sạch. Rửa tay thường xuyên trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, đặc biệt trước khi chế biến các món ăn, chuẩn bị cơm cho trẻ, trái cây, trước khi ăn nên rửa sạch, gọt vỏ.

Trẻ bị nhiễm giun sán

Đối với trẻ em:

– Bỏ thói quen mút tay của trẻ vì mút tay trẻ dễ bị nhiễm giun kim và trứng giun kim có thể tồn tại trên bề mặt quần áo, chăn mền và đồ chơi khoảng 2, 3 tuần.

– Cắt móng tay, móng chân thường xuyên cho bé. Hạn chế cho bé đi chân đất ra ngoài.

Không để bé trườn, lăn, lê, bò toài dưới nền nhà không lau chùi sạch sẽ.

– Nhà cửa phải luôn vệ sinh cũng như các dụng cụ đồ chơi dành cho trẻ luôn được vệ sinh hằng ngày, sau mỗi khi chơi.

– Trẻ 2 tuổi trở lên nên uống thuốc tẩy giun định kỳ 6 tháng/lần theo chỉ định của bác sĩ.

Tẩy giun cho trẻ và tẩy giun đúng cách như thế nào?

Thông thường trẻ từ 2 tuổi trở lên mới nên tẩy giun, tuy nhiên trong những trường hợp trẻ bị suy dinh dưỡng chậm lớn do bị nhiễm giun có thể tẩy sớm hơn, 1 tuổi cũng có thể tẩy giun được nhưng phải chọn loại thuốc thích hợp. Sau đây là một số loại thuốc giun thường dùng để tẩy giun cho trẻ:

– Albendazol: ức chế sự thu nhận glucose ở ấu trùng và giun trường thành, làm giảm dự trữ glycogen, giảm năng lưỡng nên giun bất động rồi chết. Thuốc có tác dụng trên nhiều loại giun: đũa, móc, tóc, lươn, kim. Liều dùng một lần duy nhất cho trẻ từ 2 tuổi dùng 400mg.( 1V) Còn với giun móc thì uống albendazol viên 400mg mỗi ngày 1 viên và uống trong 3 ngày liên tiếp.

– Mebendazol: cũng làm cho giun bị cạn kiệt glycogen dự trữ, ngoài ra còn ức chế sự sinh sản của giun. Chỉ dùng thuốc này cho trẻ trên 2 tuổi. Để tẩy giun kim, cho trẻ uống 100mg, sau 2 đến 4 tuần nhắc lại một lần nữa; còn để tẩy một hay nhiều loại giun: móc, tóc, kim: dùng liều duy nhất 400mg.

– Pyratel: Có biệt dược là hemilltox hàm lượng 125mg và 250mg: tác dụng bằng cách phong bế thần kinh – cơ của giun, khiến chúng bị tê liệt và nhu động ruột sẽ đẩy giun ra ngoài. Pyrantel tác động lên cả dạng chưa trưởng thành nhưng không có tác dụnng trên dạng ấu trùng. Thuốc này có thể dùng để tẩy giun kim, giun đũa, giun móc cho trẻ từ 1 tuổi trở lên với liều 10mg/kg cân nặng. Nếu trẻ nhiễm giun kim nhiều có thể nhắc lại sau 1 tuần cũng với liều lượng như trên

Các loại thuốc trên được bào chế dưới dạng viên nén, thơm, ngọt, có thể nhai, nghiền trước khi uống hay dạng hỗn dịch, tùy theo lứa tuổi của bé để lựa chọn dạng thuốc cho thích hợp. Có thể uống thuốc vào bất cứ thời điểm nào trong ngày, không cần phải nhịn đói.

Tuy nhiên uống vào buổi tối trước khi đi ngủ là tốt nhất. Hiện nay, ở trường mầm non, các bé cũng được cho uống thuốc một lần trong năm, thường vào đầu năm học, các bậc phụ huynh nên lưu ý cho bé uống nhắc lại sau 6 tháng.

Tác hại của bệnh nhiễm giun đường ruột ở trẻ em

Tiến sĩ Trần Thanh Dương, Viện trưởng Viện Sốt rét Ký sinh trùng Côn trùng trung ương cho biết, nhiễm giun đường ruột cho đến nay vẫn bị xếp vào nhóm bệnh nhiệt đới ít được quan tâm do các triệu chứng, biểu hiện không rầm rộ như nhiều bệnh truyền nhiễm cấp tính hay các nguy cơ khác, nên chưa được cộng đồng quan tâm đúng mức. Các tác hại của nhiễm giun phụ thuộc vào các yếu tố như số lượng giun, thời gian nhiễm lâu hay mới, cơ quan nhiễm, sức đề kháng của người bị nhiễm, tình trạng dinh dưỡng của cơ thể.

Theo tiến sĩ Dương, giai đoạn ấu trùng, giun đũa và giun móc có thể gây viêm phổi dị ứng, giun móc gây viêm da tại chỗ do ấu trùng qua da. Ở giai đoạn giun trưởng thành, do chất tiết của giun, hoạt động của giun gây kích thích hóa học, cơ học tại chỗ làm thành ruột bị tổn thương, buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu lỏng, đi ngoài ra máu.

Giun đũa có chu kỳ phát triển trong 30 ngày, có thể gây tắc ruột, lồng ruột, viêm tắc ruột, giun chui ống mật, viêm ruột thừa, dẫn đến suy dinh dưỡng, giảm khả năng phát triển trí tuệ của trẻ.

Giun tóc có chu kỳ phát triển 60-70 ngày, đẻ 3.000-20.000 trứng một ngày, sống 5-10 năm. Giun tóc có thể gây tổn thương niêm mạc ruột, hội chứng giống lỵ, dẫn đến rối loạn tiêu hóa, đau bụng, buồn nôn, táo bón, khó tiêu, chán ăn, nhiễm nặng và kéo dài gây sa trực tràng, nhiễm trùng thứ phát, thiếu máu nhược sắc.

Giun móc có chu kỳ phát triển trong 4-5 tuần, đẻ 9.000-30.000 trứng giun mỗi ngày, ký sinh trong tá tràng. Nó có thể gây thiếu máu nặng, suy tim, phù nề, phụ nữ rong kinh, vô kinh, gầy mòn, phù thũng, suy kiệt, phối hợp các bệnh khác. Người nhiễm trứng giun mất 0,02-0,1 ml máu một ngày gây thiếu máu nhược sắc, suy tim, suy kiệt, viêm dạ dày, tá tràng…

Trẻ dễ v​iêm vùng kín do nhiễm giun kim

Bé Trang, 5 tuổi ở Lạng Sơn, được đưa đi khám do hay ngứa ở vùng kín. Bé có tiền sử mắc giun kim từ năm 2 tuổi nhưng tẩy giun k​hông đều đặn. Đưa con đến bệnh viện, người mẹ bất ngờ khi bác sĩ thông báo con gái bị viêm âm hộ – âm đạo.

Theo lời mẹ bé Trang, gần đây, con gái chị có nhiều biểu hiện lạ: bé thường xuyên đưa tay gãi ở chỗ kín, đêm ngủ hay trằn trọc. Khi giặt đồ cho con, chị phát hiện thấy có nhiều dịch vàng đục dính ở quần lót của bé.

Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, bé Trang được các bác sĩ thăm khám và làm các xét nghiệm để loại trừ khả năng trẻ mắc các bệnh lý viêm nhiễm, dị dạng bộ phận tiết niệu sinh dục. Khi soi phân của trẻ, các bác sĩ nhận thấy có nhiều trứng giun.

Theo Tiến sĩ, bác sĩ Phạm Thu Hiền, khoa Điều trị tự Nguyện A, bệnh giun kim gặp ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến nhất là ở trẻ em. Bệnh có thể lây từ người này sang người khác và tái nhiễm nhiều lần do vệ sinh kém.

Ở một số trẻ gái mắc giun kim, giun có thể mang theo phân từ hậu môn chui vào âm đạo gây viêm nhiễm âm hộ – âm đạo. “Tại phòng khám, tình trạng trẻ gái mắc bệnh viêm âm hộ – âm đạo do giun kim không phải là hiếm gặp. Nhiều bà mẹ biết con mắc giun nhưng tẩy giun cho trẻ không đúng cách, không đủ liều nên trẻ hay bị tái nhiễm. Các mẹ này chỉ đưa con đi khám khi bé đã có nhiều biểu hiện viêm nhiễm phụ khoa nghiêm trọng như: âm hộ đỏ, đau, có mùi hôi, dịch tiết âm đạo bất thường, trẻ đau khi đi tiểu…”, tiến sĩ Hiền cho biết.

Giun kim là một loại giun nhỏ, sống chủ yếu ở đường tiêu hóa. Giun kim cái thường ra rìa hậu môn để đẻ trứng và vì vậy, mỗi lần đẻ trứng thì sẽ kích thích niêm mạc hậu môn gây ngứa, sưng tấy làm cho trẻ rất khó chịu. Loại giun này sinh sôi rất nhanh, chỉ sau vài giờ.

Nếu gặp điều kiện thuận lợi thì ấu trùng của giun kim cũng được hình thành tại các nếp nhăn của hậu môn. Vì vậy, trẻ có giun kim đang đẻ ở hậu môn rất dễ bị nhiễm lại (tái nhiễm), nhất là trẻ nhỏ do dùng tay gãi hậu môn rồi cầm vào đũa, bát, dụng cụ ăn, uống hoặc thức ăn, đồ uống hoặc mút tay.

Trẻ bị nhiễm giun sán

Tiến sĩ Hiền cho biết, ngoài yếu tố về khí hậu, môi trường sống thì nguyên nhân quan trọng nhất khiến trẻ mắc giun kim là do kiến thức thực hành vệ sinh đúng cách của cha mẹ, người chăm sóc còn nhiều hạn chế.

Thực tế cho thấy, tại nhiều nơi, nhất là các vùng nông thôn, khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, tỷ lệ nhiễm giun ở trẻ em còn cao do trẻ thường xuyên tiếp xúc với đất và bụi bẩn, hay ngồi dưới đất, hay mút tay, ngậm đồ chơi, vật lạ vào miệng.

Trẻ ít rửa tay trước khi ăn, sau khi chơi với chó, mèo trong nhà, cầm nắm đồ ăn khi tay bẩn, không đi giày dép, luôn để chân tiếp xúc trực tiếp với đất. Đó là những nguyên nhân khiến trẻ không chỉ bị nhiễm giun kim mà còn nhiều loại giun khác như giun đũa, giun móc…

Tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng mắc giun kim ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống của trẻ vì các bé thường có biểu hiện ngứa ngáy, ngủ không yên giấc, hay nghiến răng và đái dầm.

Tiến sĩ Phạm Thu Hiền khuyến cáo, đề phòng trẻ mắc giun kim, gia đình cần:

– Tẩy giun định kỳ cho cả gia đình, đặc biệt là trẻ em 6 tháng một lần.

– Giữ gìn vệ sinh cho trẻ: rửa tay thường xuyên bằng nước sạch và xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, mỗi khi tay bị bẩn, sau khi chơi đùa xong… Các loại hoa quả phải được rửa sạch trước khi ăn.

– Cắt móng tay thường xuyên, cần mang giày dép khi ra ngoài đất, không ngồi lê trên đất.

– Không đại tiện, không phóng uế bừa bãi. Xử lý các chất thải, vệ sinh nhà cửa sạch sẽ.

150 con giun làm tắc ruột bé trai 5 tuổi

Cậu bé nhập viện trong tình trạng đau bụng dữ dội, nôn mửa. Khi mổ cấp cứu, các bác sĩ gắp ra được khoảng 150 con giun.

Tối 23/10, cháu bé ở xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa (Quảng Bình), được đưa đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam Cu Ba ở Đồng Hới. Các bác sĩ chẩn đoán cháu bị tắc ruột nghi do giun và phải mổ cấp cứu. Bác sĩ phát hiện một búi giun to, đếm đến gần 150 con trong ruột cháu bé.

Theo các bác sĩ, lâu lắm rồi bệnh viện mới gặp một trường hợp tắc ruột do giun với số lượng lớn như vậy. Mẹ bé cho biết vì hoàn cảnh gia đình và nhận thức hạn chế nên từ khi sinh ra đến nay cháu chưa được đi khám, tẩy giun lần nào.

Khi nhiễm giun nặng, giun chui vào ống mật chủ, ống tụy, ruột thừa và các chỗ khác, gây viêm đường mật, viêm túi mật, áp xe gan do vi khuẩn, viêm tụy hoặc hoàng đản tắc mật. Trường hợp nhiễm giun rất nặng, các búi giun có thể gây tắc ruột, xoắn ruột, lồng ruột. Nếu bệnh nhân mắc bệnh thương hàn, giun có thể xuyên thủng thành ruột bị mỏng. Nhiễm giun vừa phải khiến trẻ em bị chậm lớn…

Biện pháp phòng bệnh giun tốt nhất là không ăn rau sống quả xanh, không uống nước lã. Rửa tay trước khi ăn uống. Không để trẻ em chơi nơi đất cát, không để móng tay dài dễ nhét đất cát và lây nhiễm trứng giun. Xử lý tốt phân, nước, rác. Không dùng phân tươi bón ruộng và tẩy giun theo định kỳ.

80% người nhiễm giun lươn tử vong vì chữa nhầm

Đang khỏe mạnh đột nhiên ăn uống khó khăn, sụt cân, khó thở… cụ ông 85 tuổi được điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhưng không hiệu quả. Nhiều xét nghiệm sau đó phát hiện nguyên nhân bệnh là nhiễm giun lươn.

Cụ ông được điều trị ở một bệnh viện lớn tại TP HCM khoảng 10 ngày với bệnh lý bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có suy hô hấp. Sau khi xuất viện 2 ngày, bệnh nhân nhập viện cấp cứu vào Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn vì bệnh tái phát nguy kịch. Bệnh nhân ho, khó thở, nuốt đau, nuốt nghẹn, ngứa da, nôn ói sau ăn, mất nước và sụt cân nhanh, suy hô hấp nặng phải thở máy xâm lấn.

Từ phác đồ điều trị không có kết quả của bệnh viện trước, các bác sĩ quyết định làm các xét nghiệm và nội soi dạ dày thực quản tìm nguyên nhân gốc. Kết quả nội soi cho thấy nhiều nấm và nhiều ổ loét dạ dày thực quản. Tiếp tục lấy mẫu làm sinh thiết, soi trực tiếp mô sinh thiết, soi phân, xét nghiệm máu, hút đàm qua nội khí quản và các xét nghiệm khác đều cho kết quả nhiễm giun lươn. Sau hơn 2 tuần điều trị, bệnh nhân xuất viện trong tình trạng sức khỏe ổn định. Đây là một trong những trường hợp nhiễm giun lươn nặng hiếm gặp.

Bác sĩ Nguyễn Ngọc Huy, Khoa Hồi sức Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn cho biết đa số dấu hiệu của bệnh nhân nhiễm giun lươn đều hướng đến bệnh lý khác, không có triệu chứng hoặc rất mơ hồ, khiến các thầy thuốc lâm sàng, nhất là nội tiêu hóa, hô hấp và da liễu, đôi khi nhầm lẫn dẫn đến chẩn đoán và điều trị không kịp thời. Y văn thế giới ghi nhận 80% bệnh nhân nhiễm giun lươn tử vong, nguyên nhân chủ yếu là vì chữa nhầm.

“Trường hợp này chúng tôi tự tin nói với người nhà nhất định ông cụ sẽ khỏi bệnh dù lúc đó sức khỏe bệnh nhân suy kiệt nặng. Tuy tỷ lệ tử vong vì giun lươn rất cao nhưng nếu phát hiện và điều trị đúng nhất định sẽ khỏi bệnh”, bác sĩ Huy phân tích.

Tất cả loại giun sán khác như giun đũa, giun móc, sán chó… đều không nguy hiểm bằng giun lươn. Kích thước giun lươn rất nhỏ chỉ khoảng vài chục micromet đến milimet, có thể tồn tại suốt đời trên vật chủ, khoang miệng và thân mang theo vô số vi trùng từ đường tiêu hóa. Vì nó quá nhỏ nên không nhìn được bằng mắt thường như các loại giun sán khác, không cần ra môi trường ngoài vẫn hình thành chu kỳ sinh trưởng phát triển trong cơ thể bệnh nhân, có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm dẫn đến tử vong.

Việt Nam được xếp vào vùng nội dịch của giun lươn, tập trung nhiều ở Củ Chi, Thủ Đức, Hóc Môn, Long An, Bình Dương, Bình Phước… Khi tiếp xúc với đất chứa ấu trùng giun lươn, ấu trùng sẽ đi xuyên qua da vào máu, đường hô hấp, tiêu hóa, sau đó sinh sôi nảy nở và di chuyển khắp mọi nơi trong cơ thể.

Nếu vật chủ (người nhiễm giun lươn) miễn dịch tốt thì không hoặc ít có triệu chứng. Khi hệ miễn dịch yếu đi, giun lươn lập tức bùng phát tấn công vật chủ, dẫn đến hội chứng tăng nhiễm giun lươn (Hyperinfection) và nhiều vi trùng mang theo gây ra bệnh cảnh nhiễm trùng nặng. Nó có thể tiến vào đường thở gây viêm phổi làm suy hô hấp, tiến vào hệ tiêu hóa gây buồn nôn, nuốt đau rát, rối loạn tiêu hóa, mất nước, sụt cân, thiếu máu… có thể gây tăng đường huyết, rối loạn điện giải, suy đa tạng, biểu hiện tổn thương da, giả u đường tiêu hóa, suy kiệt nặng… rất dễ nhầm lẫn nhiều bệnh lý của các chuyên khoa khác nhau.

Đa phần bác sĩ đều tập trung điều trị các triệu chứng các bệnh lý khác của người bệnh, chứ không nhận ra bệnh nhân bị nhiễm giun lươn nặng. Do đó, sau khi điều trị hết nhiễm trùng và các rối loạn khác nhưng bệnh vẫn không khỏi, bệnh nhân vẫn tái nhiễm trong thời gian rất ngắn. Do các vi khuẩn gốc bám trên giun lươn vẫn còn tồn tại, nó sẽ tiếp tục gây bệnh cho đến khi người bệnh tử vong.

“Trong nhiều trường hợp, bệnh nhân có chỉ định dùng thuốc ức chế miễn dịch, thuốc corticoid, thuốc điều trị ung thư thì nên tầm soát luôn giun lươn vì có nguy cơ bùng phát bệnh giun lươn nặng”, bác sĩ Huy khuyến cáo.

Bé gái nhiễm sán lá gan sau khi ăn thịt bò tái

Bé Cháu (Sơn La) bị sốt, đau bụng, chướng bụng, khó thở. Cấp cứu tại Bệnh viện Nhi trung ương, bác sĩ phát hiện bệnh nhi bị sán lá gan xâm nhập nội tạng.

10 ngày trước, bé Phàng Thị Cháu 4 tuổi, dân tộc Mông ở Sơn La, được bệnh viện địa phương chuyển tới Bệnh viện Nhi Trung ương trong tình trạng khó thở, nôn liên tục. Siêu âm tim phát hiện tràn dịch màng tim mức độ nặng, dẫn tới chèn ép tim, gây khó thở. Theo gia đình, cách đây 2 tuần, người nhà có cho cháu ăn thịt bò tái và cua nướng, một tuần sau trẻ xuất hiện sốt, đau đầu, đau bụng và chướng bụng.

Tại khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Nhi Trung ương, bệnh nhân được thở ôxy và chọc hút dịch ngoài màng tim cấp cứu. Sau vài giờ, cháu bé đã thoát cơn nguy hiểm, tình trạng khó thở giảm hẳn. Điều đặc biệt là dịch màng tim của trẻ có màu vàng, lẫn nhiều sợi trắng và mảnh, nhìn như đốt sán.

Kết hợp với dấu hiệu bạch cầu ưa axit trong dịch màng tim tăng cao, các bác sĩ nghi ngờ cháu bé bị nhiễm ký sinh trùng. Kết quả xét nghiệm dịch màng ngoài tim cho thấy bệnh nhân nhiễm sán lá gan lớn.

Bé Cháu được điều trị bằng thuốc diệt ký sinh trùng đặc hiệu kết hợp tiêm kháng sinh đường tĩnh mạch. Sau một tuần, sức khỏe bệnh nhi đã cải thiện rõ rệt, cháu hết khó thở, siêu âm không còn thấy tràn dịch màng ngoài tim.

Thạc sĩ Nguyễn Văn Lâm, Phó trưởng khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, 6 tháng đầu năm khoa đã tiếp nhận 8 trường hợp trẻ nhiễm ký sinh trùng, trong đó có 4 ca nhiễm sán. Hầu hết bệnh nhi nhiễm sán lá gan khi vào cấp cứu đều đã bị sán xâm nhập nội tạng, gây áp xe gan, tràn dịch màng phổi, viêm não, áp xe não. Bé Cháu là trường hợp đặc biệt bị tràn dịch màng tim do nhiễm sán.

Bệnh sán lá gan lớn

Bác sĩ Nguyễn Văn Lâm cho biết, sán lá gan lớn là loại sán dài 3-4 cm. Người bệnh thường nhiễm sán do không tuân thủ vệ sinh an toàn thực phẩm: Ăn thức ăn tái, nội tạng động vật nhiễm sán chưa được nấu chín, uống nước lã… Sau khi đi vào cơ thể người, sán ký sinh trong gan mật, trường hợp bất thường sán có thể ký sinh trong cơ, dưới da (ký sinh lạc chỗ). Tùy vào số lượng sán và vị trí khu trú mà bệnh nhân có những biểu hiện điển hình hoặc không điển hình.

Triệu chứng toàn thân:

– Mệt mỏi, biếng ăn, gầy sút.

– Sốt: Sốt thất thường, có thể sốt cao, rét run hoặc sốt chỉ thoáng qua rồi tự hết, đôi khi sốt kéo dài.

– Thiếu máu: Da xanh, niêm mạc nhợt gặp ở các trường hợp nhiễm kéo dài đặc biệt ở trẻ em.

Triệu chứng tiêu hóa:

– Đau bụng: Đau vùng hạ sườn phải lan về phía sau hoặc vùng thượng vị – mũi ức. Tính chất đau không đặc hiệu, có thể đau âm ỉ, đôi khi dữ dội, cũng có trường hợp không đau bụng.

– Bệnh nhân có cảm giác đầy bụng khó tiêu, rối loạn tiêu hóa, buồn nôn.

– Một số bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng của các biến chứng như tắc mật, viêm đường mật, viêm tụy cấp, xuất huyết tiêu hóa…

Các bác sĩ khuyến cáo để đề phòng mắc bệnh do ký sinh trùng, gia đình cần tuân thủ vệ sinh ăn uống: Không ăn sống các loại rau mọc dưới nước, không uống nước lã. Trong trường hợp trẻ có biểu hiện mệt mỏi, gầy yếu, vàng da, rối loạn tiêu hóa kéo dài, nên đưa đến cơ sở khám chữa bệnh để được chẩn đoán và điều trị kịp thời, tránh những hậu quả đáng tiếc do nhiễm sán gây ra.

Các thuốc điều trị giun cho trẻ đang có trên thị trường hiện nay

Các thuốc điều trị giun hiện nay gồm:

Piperazin (dietylendiamin)

Đây là loại hexahydrat chứa 44% hoạt chất, còn lại dùng muối trung tính (citrat, phosphat, adipat, edetat, sebacat…).

Thuốc dễ hấp thu qua ống tiêu hóa, một phần chuyển hóa, phần còn lại thải qua nước tiểu. Thuốc có tác dụng làm cho giun liệt mềm, mất khả năng chống với nhu động ruột non và bị tống theo phân; không cần uống thuốc tẩy vì thuốc tẩy kích thích ruột làm piperazin thải quá nhanh qua phân và mất tác dụng nhanh chóng. Hiện có các dạng thuốc như siro, dạng viên…Trẻ bị nhiễm giun sán

Thuốc có phạm vi điều trị rộng. Các tác dụng phụ thường nhẹ và hiếm. Thường gặp: buồn nôn, nôn, đau và khó chịu vùng bụng; phân nhão hoặc đi lỏng. Dấu hiệu thần kinh trung ương rất hiếm (nhưng cẩn thận khi suy thận) như: ngủ gà, yếu cơ, chóng mặt, lẫn lộn, loạn phối hợp ngôn ngữ, cơn động kinh… Không dùng thuốc cho người rối loạn chức năng thận, viêm gan kéo dài, tiền sử thần kinh hoặc động kinh vàng da, có thai 3 tháng đầu. Không dùng khi nhiễm giun ồ ạt (quá nhiều) vì có thể gây tắc ruột.

Pyrantel pamoat (combantri, antiminth)

Muối pamoat ít hấp thu qua ống tiêu hóa của người nên tác dụng tại chỗ mạnh. Tuy vậy, phần hấp thu được có thể gây tác dụng phụ (cần cẩn thận ở người nhược cơ, bệnh cơ). Tác dụng của pyrantel ngược với tác dụng của piperazin, làm cơ của giun co mạnh cấp tính, ngừng co bóp tự phát, giun sẽ bị liệt cứng và bị tống ra khỏi cơ thể. Không dùng chung pyrantel và piperazin vì làm triệt tiêu tác dụng của nhau.

Pyrantel chống giun đũa, giun kim rất tốt. Liều uống một lần duy nhất cho 90-100% kết quả. Ngoài ra thuốc còn điều trị giun móc. Liều dùng duy nhất 10mg/kg cân nặng, có khi dùng liều ít hơn (dạng nhũ tương cho trẻ em, viên nén cho người lớn). Thuốc dễ dung nạp, tác dụng phụ nhẹ và thoáng qua: chóng mặt, nhức đầu, nôn, đau bụng, đi lỏng.

Mebendazol (dẫn xuất của benzimidazol)

Dẫn xuất này gồm mebendazol (vermox, fugacar…), thiabendazol, flubendazol (fluvernal), parbendazol… có phổ tác dụng chống giun sán rộng. Mebendazol là bột vô định hình vàng nhạt, rất ít tan trong nước và dung môi hữu cơ. Không hút ẩm, ổn định ở không khí. Thuốc làm mất những vi ống của bào tương ở tế bào ruột và da của giun, ống dẫn glucose bị tổn thương nên glucose giảm hấp thu. ATP (yếu tố thiết yếu cung cấp năng lượng giúp cho sinh tồn và tái tạo của giun) giảm tổng lượng.Trẻ bị nhiễm giun sán

Thuốc tác động trên giun đũa, giun tóc, giun móc, giun kim.

Ưu điểm: Thuốc dung nạp tốt. Các tác dụng phụ: đau bụng, đi lỏng, sốt, ngứa, phát ban… thường nhẹ và hiếm khi xảy ra. Dùng thuốc liều cao có thể làm giảm bạch cầu trung tính (có phục hồi). Thuốc làm tăng tiết insulin, làm tăng tác dụng của insulin và các thuốc chống đái tháo đường khác.

Thiabendazol (mintezol)

Hiện nay đã có nhiều thuốc đặc hiệu nên chỉ dùng thiabendazol trong giun lươn, giun móc, giun chỉ. Thuốc là tinh thể màu trắng, không vị, không tan trong nước. Ổn định ở thể rắn hoặc dung dịch.

Uống liều duy nhất, hấp thu nhanh qua ống tiêu hóa và nồng độ tối đa trong huyết tương đạt sau 1-3 giờ. Tác dụng phụ nhiều nhưng nhẹ, thoáng qua và sẽ giảm nếu uống thuốc sau bữa ăn.

Levamisol (decaris, solaskil)

Thuốc làm giảm năng lượng cần cho cơ của giun, làm giun bị liệt và bị tống ra ngoài. Thuốc hấp thu qua ống tiêu hóa, thải qua nước tiểu, phân và hơi thở. Tác dụng tốt trên giun đũa, giun kim. Uống liều duy nhất. Không cần dùng thuốc tẩy.

Tác dụng phụ: buồn nôn, nôn, chán ăn, đTrẻ bị nhiễm giun sánầy bụng, chóng mặt, nhức đầu. Không có bất thường về chức năng của máu, thận, gan.

Không dùng cho phụ nữ khi mang thai 3 tháng đầu, người suy gan, suy thận nặng. Không dùng cùng thuốc tan trong lipid. Hiện nay, thuốc này ít được dùng vì có gặp một số tác dụng ngoại ý ở thần kinh trung ương.

Pyrvinium pamoat

Thường dùng chống giun kim, tỷ lệ khỏi 86-95%. Thuốc có màu đỏ thắm, không tan trong nước. Uống không hấp thu qua ống tiêu hóa. Dùng viên hoặc nhũ tương. Có thể dùng thêm một liều sau hai tuần để loại bỏ trứng còn phát triển sau lần đầu. Thuốc dễ dung nạp. Một số ít người có buồn nôn, nôn, co cơ. Khi uống phân có màu đỏ.

Bephenium hydroxynaphtoat

Tinh thể vàng nhạt, vị đắng, ít hấp thu qua ống tiêu hóa. Thuốc có tác dụng chống giun móc là chủ yếu, ít dùng chống giun đũa, giun lươn. Uống lúc đói buổi sáng sớm, tối hôm trước ăn nhẹ, không dùng thuốc nhuận tràng trước hoặc thuốc tẩy sau khi dùng bephenium. Uống 3 ngày liền.

Thuốc ít độc, thỉnh thoảng buồn nôn, nôn, co cơ bụng, đi lỏng, choáng váng. Không dùng cho người loét dạ dày – ruột (không phải do giun móc), phụ nữ có thai, thiếu máu nặng.

Metrifonat (bilarcil)

Trước kia thuốc này dùng để diệt côn trùng. Hiện nay cũng ít dùng để chống giun. Thuốc làm liệt cơ của giun. Có tác dụng chống giun tóc. Tác dụng phụ: buồn nôn, nôn, đi lỏng, yếu, mệt, nhức đầu, chóng mặt, khó chịu ở bụng.

Diethylcarbamazin (DEC, hetrazan, notezin, banocid)

Là thuốc đặc hiệu chống giun chỉ ở mạch bạch huyết. Tác dụng trên ấu trùng, DEC làm mất nhanh ấu trùng ở tuần hoàn. Trên giun chỉ trưởng thành, DEC làm giun chết hoặc nếu còn sống thì cũng bị bao vây bởi tế bào thoái hóa.

Dùng nhiều đợt, thường dùng cùng glucocorticoid, thuốc kháng H1, sulfamid hoặc kháng sinh để chống bội nhiễm.

Tác dụng phụ: mệt, choáng váng, chán ăn, ngủ gà, buồn nôn, nôn.

from Healthyblog https://ift.tt/2GQZSyD

Trẻ Bị Viêm Amidan, Nguyên Nhân, Dấu Hiệu Cách Phòng, Điều Trị

Trẻ bị viêm amidan thường gặp ở lứa tuổi trên 2 tuổi. Bệnh viêm amidan thường phát triển mạnh vào thời điểm giao mùa. Trẻ bị viêm amidan liên tục sẽ làm cho cha mẹ hết sức lo lắng, việc dùng thuốc kháng sinh kéo dài cũng gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe và sự phát triển của trẻ nhỏ.

Mời các bậc phụ huynh tham khảo các tư vấn về bệnh viêm amidan ở trẻ em từ các bác sĩ giàu kinh nghiệm sau đây.

Thế nào là bệnh viêm amidan?

– Amidan là những tế bào lympho có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn, amidan cũng là nơi sản xuất ra kháng thể IgG rất cần thiết trong miễn dịch và là hàng rào miễn dịch vùng họng miệng, hoạt động mạnh từ 4 – 10 tuổi, sau đó đến tuổi dậy thì mức độ miễn dịch của amidan giảm rõ và không còn hoạt động mạnh nữa.

 Viêm amidan tức là nói đến amidan khẩu cái, khi amidan chống lại sự xâm nhập ồ ạt của vi khuẩn vào mũi họng vượt quá mức sẽ xảy ra tình trạng amidan bị sưng viêm, đỏ và hậu quả của sự tập trung tiêu diệt vi khuẩn tại amidan thường để lại xác vi khuẩn và xác bạch cầu, mô hoại tử thành các cục mủ rất hôi, lâu lâu rớt ra khỏi amidan.Trẻ bị viêm amidan

 Viêm Amidan Mãn Tính: Việc phải chữa viêm amidan nhiều lần làm khả năng chống vi khuẩn bị yếu đi, do chính các ổ viêm nằm trong amidan, lại là nơi khởi phát cho những đợt viêm vùng họng.

– Bệnh amidan chiếm tỷ lệ cao ở trẻ em, thường do vi khuẩn gây ra. Trong 1 năm người bệnh tái phát viêm Amidan 5 lần trở lên được coi là Viêm Amidan mãn tính.

Bệnh viêm amidan ở trẻ em

Khi trẻ hả to miệng ra, ta sẽ quan sát thấy hạch nhân to nhất trong vòng bạch huyết hai bên đáy lưỡi, đó chính là amidan.

Bình thường, mặt ngoài của tuyến amidan có màu hồng nhạt, trơn láng, hai amidan có thể tích nhỏ nằm sát hai bên thành họng. Khi cơ thể phải chống lại các vi khuẩn bên ngoài xâm nhập vào cơ thể, bản thân amidan có thể sẽ sưng lên và bị nhiễm trùng.

Khi trẻ lớn dần, thể tích amidan cũng tăng lên và có thể đạt đến độ cực đại vào khoảng từ 7 đến 10 tuổi, đến tuổi dậy thì thể tích amidan sẽ nhỏ dần xuống.

Nguyên nhân khiến trẻ bị viêm amidan?

Thời gian giao mùa và thời tiết lạnh là lúc đường hô hấp dễ bị nhiễm khuẩn và amidan phải phòng vệ để bảo vệ cho đường hô hấp nên amidan sẽ có thể bị nhiễm trùng và sưng to lên.

Nếu trẻ giữ vệ sinh không sạch, không thường xuyên rửa tay, khi chơi tay bẩn sau đó cho miệng vi khuẩn sẽ vào họng ồ ạt, amidan phải làm việc hết công suất để tiêu diệt được số vi khuẩn to lớn này nên amidan cũng có thể viêm nhiễm và sưng tấy.

Tuy là cơ quan làm nhiệm vụ miễn dịch cho cơ thể nhưng amidan là một cơ quan có cấu tạo nhiều khe hốc nên nó có thể làm cho thức ăn ứ động và là ổ trú ngụ của vi khuẩn trong một số trường hợp. Nếu trẻ không thường xuyên đánh răng súc miệng sau khi ăn thì các vi khuẩn tại amidan sẽ làm cho cơ quan này viêm nhiễm.

Chẩn đoán viêm amiđan

Trẻ bị viêm amidan

1. Viêm amidan cấp tính

Viêm amiđan cấp thường làm người bệnh sốt cao, ớn lạnh, đau họng, vướng họng , ăn uống khó khăn, hơi thở hôi, sưng đau hạch dưới hàm, hạch cổ trước, nhức đầu, mệt mỏi, đau nhức các bắp thịt toàn thân và xương khớp…..nếu không được điều trị kịp thời có thể bị các biến chứng như viêm tấy quanh amiđan, mưng mủ quanh amiđan làm cho người bệnh nuốt đau dữ dội, há miệng hạn chế do bị khít hàm và giọng nói của người bệnh bị thay đổi giống như khi ta nghe một người vừa ngậm củ khoai nóng trong miệng vừa nói chuyện.

Trẻ em khi bị viêm amiđan có thể bị biến chứng viêm tai giữa, viêm mũi xoang, viêm thanh quản, viêm khí – phế quản… , đặc biệt viêm amiđan do liên cầu trùng có thể gây biến chứng sốt thấp khớp, thấp tim, viêm cầu thận, nhiễm trùng máu, choáng nhiễm độc tố (trẻ sốt cao, tiểu ít, khó thở, tụt huyết áp đột ngột, suy thận, suy hô hấp, ngưng thở).

2. Viêm amidan mạn tính

Viêm amiđan mạn tính là tình trạng nhiễm trùng tiềm tàng, dai dẳng của amiđan và dễ bị tái phát. Thể bệnh này thường gặp ở người lớn và trẻ lớn, triệu chứng ‘nghèo nàn’, không rầm rộ như viêm cấp.

Người bệnh chỉ than phiền nóng rát họng, nuốt vướng, hôi miệng, đau tai, sờ thấy hạch cổ, hạch dưới hàm, hạch góc hàm và mệt mỏi mạn tính…

Trong đợt tái phát, người bệnh có các triệu chứng của viêm amiđan tái phát cấp. Khi người bệnh há miệng, chiếu đèn vào họng, có thể nhìn thấy amiđan to hoặc teo và các hốc amiđan có chứa nhiều chất bã đậu. Khi đó, bác sĩ thường chẩn đoán là Viêm amiđan hốc mủ mạn tính.

Triệu chứng khi trẻ bị viêm amidan

Trẻ bị viêm amidan

– Triệu chứng đầu tiên khi trẻ bị viêm amindan, trẻ sẽ cảm thấy khó nuốt, đau trong họng, cơn đau đôi khi kéo dài nhiều giờ đồng hồ. Trẻ có thể lạc giọng hoặc mất hẳn giọng nói.

– Trong trường hợp nếu nếu trẻ viêm họng do virus coxsackie thì ở khu vực amidan và vùng vòm họng của trẻ sẽ có những mụt phỏng. Nếu không điều trị dứt điểm thì những mụt này sẽ vỡ ra thành những vết loét rất đau và rát. Nếu viêm họng do nhiễm khuẩn liên cầu, amidan của trẻ thường sưng to và bị bao phủ bởi những chấm trắng, trẻ có hơi thở hôi, cảm thấy rất mệt mỏi và có thể sốt cao hơn 38oC.

– Bên cạnh đó, khi trẻ bị amidan trẻ sẽ cảm thấy miệng khô đắng, lưỡi trắng, niêm mạc họng đỏ và góc hàm của trẻ có thể nổi hạch.

– Trong trường hợp trẻ bị viêm amidan mãn tính trẻ sẽ ngáy khi ngủ và chủ yếu thở bằng miệng. Khi nói chuyện, trẻ sẽ phát âm giọng mũi hoặc khó khăn khi phát âm. Tình trạng amidan mãn tính nếu không được điều trị kịp thời có thể gây ra hội chứng ngưng thở khi ngủ và sẽ ảnh hưởng đến chức năng tai của trẻ.

Những biến chứng nguy hiểm của bệnh viêm amidan

Bệnh tinh hồng nhiệt : do những độc tố của liên cầu trùng gây ra sẽ làm bệnh nhân nổi ban, hạch, đau họng , nhức đầu, sốt cao, viêm sưng to amidan .. dẫn đến viêm tai giữa hoại tử các xương con

Viêm khớp cấp : sẽ khiến bệnh nhân bị các triệu trứng sưng, nóng và đau các khớp tay, ngón tay, chân, các đầu gối khiến người mệt mòi dẫn đến các bệnh lý màng tim

Viêm cầu thận : Tần xuất bệnh viêm cầu thận sau viêm amidan khoảng 24%, và chuyển thành viêm thận cấp sau đó. Bệnh nhân có hiện tượng phù chân, phù mặt nhất là khi ngủ dậy.

Áp xe quanh amidan : do viêm amidan nhiều lần làm cho bệnh nhân đau họng, khó nuốt, sưng họng nói không ra tiếng, đau đầu, sốt cao, hơi thở hôi, chảy nước dãi, do không nuốt được. Khám họng phát hiện khẩu cái mềm bên áp xe bị đẩy ra trước, sờ mềm. Khi rạch dẫn lưu nhiều mủ đặc rất thối trong ổ áp xe.

Điều trị bệnh viêm amidan: Trẻ bị viêm amidan nên uống thuốc gì?

1. Sử dụng thuốc:

Viêm amidan do nhiễm liên cầu thường được điều trị bằng kháng sinh như penicillin. Đôi khi, đặc biệt ở trẻ nhỏ khó nuốt, penicillin được dùng đường tiêm. Kháng sinh điển hình cần dùng ít nhất 10 ngày. Mặc dù trẻ cảm thấy khá hơn trong 1 – 2 ngày, vẫn cần phải dùng kháng sinh đầy đủ đến hết đợt.

Dừng kháng sinh sớm sẽ tạo ra các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh. Hơn nữa, có thể bị viêm lại, có khả năng gây biến chứng nặng.

Trẻ bị viêm amidan

trẻ bị viêm amidan

Đáng tiếc, hiện này chưa điều trị được virus gây viêm amidan. Điều này có nghĩa là cần tập trung vào các biện pháp bổ trợ trong đợt nhiễm virus. Có thể kéo dài từ 7 – 14 ngày cho tới khi trẻ bình phục hoàn toàn.

2. Phẫu thuật

Khi bị viêm amidan, người bệnh cần đến bệnh viện để được các bác sĩ chuyên khoa điều trị hoặc chỉ định cắt amiđan nếu cần thiết.

Nên cắt amiđan trong các trường hợp sau đây

  • Amiđan quá phát gây bít tắc đường thở, đường ăn
  • Nghi ngờ ung thư amiđan.
  • Viêm amiđan tái phát cấp hơn 6 lần trong một năm, hoặc 3 lần mỗi năm trong 2 năm
  • Viêm amiđan tái phát cấp do liên cầu trùng tan huyết Bêta nhóm A ở người có kèm theo bệnh van tim hậu thấp hoặc ở trẻ có kèm theo tiền sử thường bị sốt cao co giật.
  • Viêm amiđan mạn tính hoặc viêm amiđan tái phát cấp ở người mang mầm bệnh Liên cầu trùng mà không đáp ứng điều trị bằng thuốc.
  • Viêm amiđan mạn tính đã được điều trị nội khoa tích cực nhưng người bệnh vẫn đau họng dai dẳng, viêm đau hạch cổ , hơi thở hôi.
  • Mưng mủ quanh amiđan ít nhất một lần phải nhập viện điều trị.
  • Viêm amiđan gây biến chứng viêm cầu thận hoặc gây mưng mủ hạch cổ.

Trẻ em dưới 5 tuổi và người lớn trên 45 tuổi nên hạn chế cắt amidan. Cắt vào mùa nào cũng được vì hiện nay có nhiều phương pháp hiện đại cắt amidan an toàn và không chảy máu.

Nếu có các bệnh khác kèm theo như: cao huyết áp, tim mạch, đái đường… thì chỉ định lại hạn chế.

Phòng ngừa viêm amidan cho trẻ

Điều đầu tiên và quan trọng nhất trong phòng ngừa amidan cho trẻ là giữ gìn vệ sinh răng miệng và vệ sinh đường hô hấp trên. Có thể dùng nước muối sinh lý NaCl 9% để làm vệ sinh mũi và dụng cụ hút mũi cho trẻ khi bé bị sổ mũi. Ở trẻ nhũ nhi, sau khi trẻ bú xong cần làm vệ sinh bằng cách rơ miệng cho trẻ bằng gạc y tế.

Đối với những trẻ đã có khả năng súc miệng đánh răng, nên hướng dẫn cho trẻ vệ sinh răng miệng đúng cách, nhất là sau khi ăn và trước khi đi ngủ. Tránh để cho trẻ đưa tay vào miệng, hạn chế chơi và thổi bong bóng.

Trong thời tiết chuyển mùa, giữ cho trẻ đủ ấm cũng quan trọng không kém, đặc biệt là giữ ấm cổ và tay chân. Không nên để trẻ ở trong phòng có máy điều hòa nhiệt độ với nhiệt độ quá thấp, nhiệt độ máy điều hòa phù hợp đối với trẻ là 25oC – 28oC.

Thường xuyên làm vệ sinh tấm chắn của máy điều hòa nhiệt độ và làm vệ sinh máy định kỳ là việc cần thiết phải làm để bảo vệ sức khỏe đường hô hấp cho trẻ và cả gia đình. Nên để trẻ sống trong phòng kín gió, có nhiệt độ đủ ấm và thông thoáng.

Khói thuốc và bụi bẩn cũng là một trong những nguyên nhân đầu tiên làm cho trẻ bị viêm amidan. Vì thế, tốt nhất là hãy để trẻ tránh xa môi trường khói thuốc và bụi bẩn. Khi trẻ đã có tiền sử về các bệnh hô hấp, nên hạn chế cho trẻ ăn các thức ăn lấy trực tiếp ra từ tủ lạnh như trái cây, yaourt, kem… Tuyệt đối không nên cho trẻ ăn và uống thực phẩm chung với đá lạnh.Trẻ bị viêm amidan

Chăm sóc trẻ bị viêm Amidan như thế nào?

– Khi bé có những biểu hiện của viêm amidan, bạn cần làm theo những bước sau:

  • Khám họng cho trẻ xem hai bên amidan có sưng không, có nổi mụt trắng không hay bé chỉ bị viêm họng thông thường.
  • Kiểm tra nhiệt độ cơ thể, nếu trẻ sốt cao quá 38oC thì có thể hạ sốt bằng paracetamol và lau mát bằng nước ấm, mặc đồ thông thoáng cho bé.
  • Dùng hai tay ấn nhẹ vào hai bên cạnh hàm để kiểm tra xem bé có bị nổi hạch cạnh hàm hay không.
  • Kiểm tra tai và màng nhĩ xem tai bé có bị chảy mủ không.
  • Cho bé uống nhiều nước giúp cho cơ thể bài tiết tốt và nhanh chóng hạ sốt.
  • Không nên nài ép bé ăn trong lúc này, chỉ nên cho ăn thức ăn lỏng dễ nuốt như sữa hoặc cháo.
  • Tránh cho trẻ súc miệng bằng nước muối và làm động tác ngửa cổ lên để khò nước. Việc này sẽ làm vi khuẩn lây lan nhiều hơn.

 Trẻ bị viêm amidan cấp hay mãn tính nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời sẽ gây nên những biến chứng nghiêm trọng.

– Gây apxe xung quanh amidan khiến toàn bộ vùng quanh amidan bị sưng tấy. Bệnh nhân bị sốt, nuốt thấy đau và bị nhiễm trùng nặng. Viêm amidan còn có thể gây nên viêm tai giữa, viêm xoang, viêm thanh quản và khí phế quản.

– Viêm amidan còn gây nên những biến chứng rất nguy hiểm như: thấp tim, viêm khớp, viêm cầu thận.

Những gợi ý sau có thể giúp làm nhẹ triệu chứng của viêm amidan

– Nghỉ ngơi nhiều. Ngủ giúp cơ thể chống lại bệnh tật. Trẻ nên ở nhà cho tới khi không còn sốt và cảm thấy khỏe hơn.

– Uống nhiều nước, các chất lỏng dịu. Súp, nước thịt và chè rất tốt. Thực tế, súp gà có thể giúp kháng khuẩn.

– Súc họng bằng nước muối ấm. Đối với trẻ lớn, súc họng vài lần trong ngày có thể giúp làm giảm đau họng. Pha nửa tới một thìa cà phê muối trong 220 ml nước ấm. Phải nói với trẻ nhổ đi sau khi súc họng.

– Bác sỹ cũng có thể đưa cho trẻ dùng acetaminophen (Tylenol) để hạ sốt. Do nguy cơ của hội chứng Reye, không cho trẻ dưới 12 tuổi uống aspirin.

Cần cẩn thận với dùng quá liều acetaminophen. Uống liều cao, có thể gây rối loạn nặng ở gan. Để an toàn, không bao giờ cho trẻ dùng nhiều thuốc hơn liều khuyên dùng. Hãy hỏi bác sỹ hay dược sỹ nếu bạn có thắc mắc.

Đề phòng biến chứng khi trẻ hay bị viêm amidan

Mặc dù viêm amiđan thường không nặng, nó có thể gây biến chứng nếu không được điều trị. Hãy gọi cho bác sỹ nếu trẻ có hơn một tiêu chuẩn sau:

– Có các triệu chứng của viêm amiđan kéo dài trên 48 giờ, đặc biệt nếu kèm theo sốt cao từ 39,5oC trở lên.

– Có tiền sử viêm amiđan.

– Có đau họng nhiều hơn, mặc dù đã dùng kháng sinh.

– Đã bị viêm họng do liên cầu.

Hãy cho trẻ đi khám bệnh ngay nếu có khó thở hoặc khó nuốt hay có thêm dấu hiệu hoặc triệu chứng mới như đau đầu nặng, đau ngực, đau khớp, nổi ban hoặc nôn.

Làm gì khi trẻ bị viêm amidan liên tục?

Với những trẻ dưới 6 tuổi, thường thì không có chỉ định cho việc cắt hay nạo amidan vì sẽ mang lại nhiều biến chứng, vì vậy việc phòng tránh bệnh amidan cho trẻ bằng cách giữ ấm cho trẻ (nhất là phần cổ) chính là ưu tiên quan trọng nhất thời điểm này.

Nếu bị viêm amidan, trẻ có thể bị đau tai, sốt, đau đầu hoặc khi trẻ há miệng thì có thể nhìn thấy hai bên họng của trẻ bị sưng đỏ, có một lớp phủ màu trắng hoặc màu vàng có thể có thể được hình thành trên amidan. Trẻ bị viêm amiđan cũng có thể thay đổi giọng nói và có hơi thở hôi. Ngoài ra, khi thấy trẻ có triệu chứng đau bụng và nôn những gì đã ăn thì cũng rất có thể đó là dấu hiệu viêm amidan.

Trẻ nhỏ rất dễ bị viêm amidan khi thời tiết thay đổi. Khi bị viêm, trẻ sẽ bị sốt kéo dài từ 3 – 5 ngày, lúc này cha mẹ cần cho trẻ uống thuốc hạ sốt theo đúng liều lượng cân nặng và độ tuổi.

Khi trẻ bị sốt trên 38,5 độ, mẹ có thể cho trẻ dùng thuốc hạ sốt. Phổ biến nhất hiện nay là paracetamol (acetaminophen) vì thuốc tương đối an toàn, hạn chế tác dụng phụ không mong muốn do thuốc không ảnh hưởng tới dạ dày, ruột.

Liều hạ sốt của paracetamol được tính theo cân nặng của trẻ  từ 10 đến 15 mg cho mỗi kg thể trọng trong một lần uống.Khoảng cách giữa hai lần uống là từ 4 đến 6 giờ.

Hiện nay, có rất nhiều loại biệt dược của Paracetamol với nhiều dạng hàm lượng khác nhau nên các bà mẹ cần xem kỹ hàm lượng thuốc và dạng dùng trên mỗi loại thuốc để chia liều cho đúng khi cho bé uống. Tránh vừa uống vừa nhét hậu môn thuốc hạ sốt cùng lúc vì sẽ gây quá liều thuốc.

Ngoài ra, khi trẻ bị sốt, mẹ cần chườm ấm, mặc quần áo mỏng cho trẻ để tránh co giật. Cho trẻ uống bù nước và điện giải.

Làm gì khi trẻ bị tái phát thường xuyên viêm amidan?

Đối với trường hợp viêm amidan ở trẻ cho tái phát thường xuyên, trong việc điều trị mẹ nên hạn chế cho trẻ dùng nhiều thuốc tây vì sẽ gây nhờn thuốc và gây nhiều tác dụng phụ.

Mẹ có thể sử dụng các bài thuốc dân gian để trị bệnh cho bé, hiệu quả không mang lại tức thì, có thể kéo dài ngày hơn nhưng lại khá an toàn và hiệu quả.

Nếu sử dụng các biện pháp trên mà bé vẫn không khỏi, cha mẹ cần đưa bé đến bác sĩ để được điều trị triệt để. Khi con thường xuyên bị nhiễm trùng amidan và con thấy khó thở vì của viêm amidan, thì các bác sĩ sẽ khuyên nên cắt bỏ amidan. Đây là liệu pháp điều trị cuối cùng mới cần áp dụng vì dù sao amidan cũng rất quan trọng với hệ thống miễn dịch của cơ thể.

Trẻ bị viêm amidan

Hình ảnh viêm amidan

Không nên lạm dụng kháng sinh khi trẻ hay bị viêm amidan

Viêm amiđan là một trong những bệnh hay gặp trong các nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đặc biệt là ở trẻ em. Các bà mẹ thường sốt ruột, cứ thấy con viêm là lạm dụng kháng sinh, rất nguy hiểm.

TS Lê Công Định, Trưởng khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Bạch Mai cảnh báo, trước thói quen của nhiều bà mẹ: cứ thấy bé sưng amiđan là “nã” kháng sinh cho con.

Theo TS Định, viêm amiđan có thể do nhiều nguyên nhân, trong đó, hai nguyên nhân phổ biến là viêm amiđan do virus và do vi khuẩn (như vi khuẩn liên cầu, tụ cầu…). Ngoài ra, các yếu tố thuận lợi như sự thay đổi thời tiết đột ngột thì ăn đồ lạnh, môi trường bụi bặm… cũng là những tác nhân gây nên tình trạng này. Và với mỗi nguyên nhân gây viêm khác nhau đều phải có cách điều trị riêng, không thể áp dụng chung.trong một đơn thuốc cho mỗi lần viêm amiđan.

Trẻ bị viêm amiđan, đa phần người bệnh đều có các biểu hiện như: Mệt mỏi, kém ăn, sốt cao tới 39-40oC, đau họng, họng khô, rát, nóng, nuốt nước bọt cũng thấy đau, ho, có khi ho từng cơn. Đặc biệt ở trẻ em thường thở khò khè, ngáy to. Trong một số trường hợp, người bệnh có hơi thở rất hôi. Người bệnh không thể tự phân biệt mình viêm amiđan do virus hay vi khuẩn nếu chỉ dựa trên những triệu chứng này.

“Bác sĩ khám bệnh, nếu thấy hai viên amiđan sưng nhưng chỉ đỏ rực bề mặt thì phần lớn là viêm amiđan virus. Còn nếu thấy ngoài dấu hiệu sưng, đỏ rực lại thêm những chấm mủ trắng trên amiđan thì bệnh nhân được xác định viêm amiđan do vi khuẩn, buộc phải điều trị bằng kháng sinh để phòng bội nhiễm…”, BS Định nói.

Cụ thể, với những trường hợp viêm amiđan do vi rút, thường chỉ sau 4-5 ngày là bệnh tự khỏi mà không phải dùng thuốc kháng sinh. Bác sĩ chỉ cho bệnh nhân dùng thuốc hạ sốt, giảm ho theo cân nặng, từ 4-6 tiếng một lần khi sốt cao 39oC trở lên. Người bệnh cần xúc miệng thường xuyên bằng nước xúc miệng diệt khuẩn, nâng cao thể trạng bằng dinh dưỡng hợp lý… bệnh sẽ lui nhanh chóng.

Nhưng với những trường hợp viêm amiđan do vi khuẩn, ngoài việc dùng thuốc hạ sốt, giảm ho, súc miệng… thì bắt buộc phải uống kháng sinh theo chỉ dẫn để phòng biến chứng như áp xe tại chỗ, gây viêm tai, viêm xoang, viêm thanh quản…

Vì thế, khi có dấu hiệu viêm amiđan, người bệnh nên đi khám để xác định nguyên nhân và điều trị đúng theo chỉ định của thầy thuốc, tránh lạm dụng kháng sinh khi không cần thiết.

Để phòng viêm amiđan, mọi người cần hạn chế ăn đồ lạnh. Thường xuyên giữ vệ sinh răng miệng, súc họng bằng nước muối pha loãng, đặc biệt trong các đợt dịch cúm, sốt xuất huyết… Tránh hút thuốc, tiếp xúc với khói thuốc lá, nhất là phụ nữ có thai và trẻ em. Chế độ ăn đầy đủ dinh dưỡng, nhiều hoa quả, vitamin C để nâng cao sức khoẻ, tăng cường sức đề kháng.

Trẻ hay bị viêm amidan tái phát có nên cắt amidan hay không?

– Trong thời gian qua, rất nhiều phụ huynh cũng đã gởi thư cho các bác sĩ tư vấn để thắc mắc về việc có nên cắt amidan cho trẻ hay không và nên cắt như thế nào? Như đã nói ở trên, amidan chính là cơ quan phòng vệ hữu hiệu nhất trong hệ thống miễn dịch của cơ thể. Vì thế , nếu trẻ lên cân đều đặn, phát triển bình thường, amidan trắng hồng, trơn láng và không bị viêm mãn tính thì không nên cắt amidan cho trẻ. Rất nhiều người có quan niệm “cắt amidan trẻ sẽ lớn nhanh hơn”, đây là một quan niệm sai lầm.

– Chỉ nên cắt amidan khi trẻ bị viêm amidan cấp hơn một lần, amidan nhiễm trùng và có mủ. Bác sĩ chẩn đoán trẻ bị viêm amidan mãn tính, khó nuốt khi ăn, ngủ ngáy, khó thở và có khả năng ngừng thở khi ngủ vì amidan sưng quá to. Amidan viêm sưng tái phát nhiều lần ảnh hưởng tới sức khỏe của bé (trên 5 lần/năm).

– Chỉ định cắt amidan phải được xác định bởi bác sĩ chuyên khoa Tai – mũi – họng và bé cần phải được khám lâm sàng thật kỹ trước khi quyết định cắt amidan. Phẫu thuật cắt amidan là một phẫu thuật đơn giản nhưng cũng có khá nhiều biến chứng tiềm ẩn bên trong vì khu vực amidan liên quan đến nhiều dây thần kinh quan trọng và thường ảnh hưởng tới sức khỏe răng miệng.

– Tạm thời không cắt amiđan khi: đang có viêm cấp hay có biến chứng tại chỗ; đang có nhiễm khuẩn toàn thân, có bệnh mạn tính chưa ổn định; có bệnh dịch hay ở vùng có bệnh dịch; phụ nữ có tha, kinh nguyệt.

– Có thể cắt amiđan ở bất kỳ lứa tuổi nào nhưng thường 4-5 tuổi trở lên mới cắt. Tuy nhiên có trường hợp trẻ nhỏ hơn vẫn phải cắt vì amiđan quá to, cản trở hoặc gây biến chứng. Viêm amiđan cũng nằm trong bối cảnh bệnh lý đường hô hấp trên, vì thế vấn đề phòng bệnh đóng vai trò mấu chốt nhất. phòng bệnh ở đây chủ yếu là chống nhiễm lạnh và ô nhiễm không khí (chủ yếu là do hút thuốc lá).

Tổng hợp các tư vấn của các bác sĩ giàu kinh nghiệm

Hỏi: Điều trị cho trẻ viêm amidan

Con tôi năm nay 3 tuổi đi khám bác sĩ nói bị viêm amidan và kê đơn cho cháu uống thuốc Augmentin Biểu hiện của cháu là 2 bên amidan to, khi ngủ ngáy to, khò khe. Tôi muốn hỏi nếu cháu không sốt, không ho, vẫn chơi bình thường thì có cần thiết phải uống kháng sinh theo đơn thuốc của bác sĩ không, nếu uống liệu amidan có giảm kích cỡ không . Nếu không uống có sao không? (Nguyễn Diễm Ngọc)Trẻ bị viêm amidan

Trả lời:

Qua triệu chứng mà bạn kể thì trẻ có thể bị viêm amidan quá phát. Đây là tình trạng viêm nhiễm lâu và xảy ra nhiều lần dẫn tới tổ chức Amidan trở lên to hơn cấu trúc bình thường. Amidan là hai tuyến hạnh nhân nằm hai bên hốc cạnh gốc lưỡi, ngay nơi tiếp giáp giữa hầu và họng, là cơ quan bảo vệ, có tác dụng trấn thủ ở ngõ của cơ thể, nơi mà các vi sinh vật hay qua đó để thâm nhập vào cơ thể và gây bệnh.

Bởi vậy các cụ mới có câu ví là ” Bệnh vào từ miệng”.  Agmentine là một kháng sinh có phối hợp giữa Amoxiclin với một hoạt chất có tên là Clavulanate, thuốc có tác dụng tốt trong các nhiễm khuẩn đường hô hấp và hầu họng cũng như những nhiễm khuẩn vùng thận tiết niệu.

Viêm amidan nếu không được điều trị triệt để có thể làm ảnh hưởng rất nhiều tới sức khoẻ của bé cũng như khả năng hay tái phát và một tỉ lệ gây thấp tim ở trẻ trên 5 tuổi, nếu những viêm nhiễm tại đây gây nên bởi một loại vi khuẩn có tên là Liên cầu Bêta tan huyết nhóm A.

Bác sĩ điều trị khi cho thuốc, kê đơn cho bệnh nhân bao giờ cũng phải cân nhắc hết sức cẩn trọng để sao cho thuốc có hiệu quả điêù trị cao nhất, ít gây ảnh hưởng nhất tới sức khoẻ của người bệnh nhất là đối với trẻ nhỏ.Vì thế bạn nên tôn trọng và thực hiện đúng theo chỉ định của bác sĩ điều trị.

Chúc bạn và bé khoẻ!

Hỏi: Giải pháp khi trẻ nhỏ bị viêm amidan mãn tính

Con gái em nay được 3,5 tuổi. Hồi tháng 2 bé có tình trạng ngủ ngáy và thở bằng miệng kể cả ban ngày, em đưa lên Bệnh viện Nhi đồng 2 (TP HCM) khám. Bác sĩ chỉ định nội soi và nạo VA. Nạo xong bé hết thở miệng nhưng vẫn ngủ ngáy.

Một tháng sau bé vẫn ngủ ngáy kèm sổ mũi, em đưa khám lại thì bác sĩ nói bé bị viêm amidan mãn tính, cho uống kháng sinh. Mỗi tháng bé lại uống 1 tuần trong 3 tháng liên tiếp.

Em thấy lo quá nên em tiếp tục cho bé qua bệnh viện Tai mũi họng (Trần Quốc Thảo) khám thì bác sĩ đầu tiên nói bé bi viêm amidan quá phát và yêu cầu cho cắt ngay, nhưng thấy bé còn quá nhỏ nên em lo và không cắt. Bác sĩ nói ‘nếu không cắt thì vì súc miệng bằng muối cho bé chứ theo bác không nên uống thuốc.

Vẫn lo lắng nên hôm sau em lại đưa đến bệnh viện này nhưng gặp bác sĩ khác. Bác cũng nói bé bị amidan quá phát nhưng cố gắng chịu cực mà chăm cho bé trên 5 tuổi rồi cắt. Bác cho 1 tuần kháng sinh. Sau 1 tuần tái khám lại gặp bác sĩ khác, bác này nói bé bớt rồi và cho thêm 1 tuần kháng sinh và cũng nói đợi lớn rồi cắt.

Từ đó đến nay gần 2 tháng bé không nóng sốt cũng không ho, ăn uống bình thường, bé được 16,5kg, nhưng có điều 2 amidan của bé lúc nào cũng sưng to, và ngủ ngáy, bé hoàn toàn không nằm ngửa được.

Vậy bác sĩ cho em hỏi trường hợp của bé khi lớn lên amidan có teo lại không? Và hiện tại có cách nào giúp bé cải thiện giấc ngủ không? Em cảm ơn Bác sĩ tư vấn nhiều ạ!

Trả lời:

Chào bạn,

Muốn trẻ em phát triển thể chất và tinh thần bình thường, ngoài chế độ ăn uống đầy đủ, bắt buộc cháu phải ngủ ngon.

Vì ngủ ngon giúp trẻ nhanh lớn. Cháu sẽ ngủ ngon nếu đường thở thông thoáng. Tư thế trẻ ngủ ngon là nằm rất thoải mái và hít thở nhẹ nhàng, gần như không có âm thanh khi hít thở, môi hồng…

Viêm amidan là một dạng nhiễm trùng. Mỗi người sinh ra có 2 amidan nằm ở họng ngang với lưỡi gà có tác dụng bảo vệ vùng họng.

Khi amidan gây rắc rối nặng đến mức không chữa được bằng thuốc (trở nên gây hại), người ta có chỉ định cắt bỏ.

Cắt amidan phải rất cân nhắc, không phải thích cắt là cắt do giữ lại có lợi hơn:

– Chỉ cắt khi amidan sưng, đỏ, có mủ trên 4 lần/năm trong 2 năm liên tiếp.

– Khi được xác định là ổ chứa vi khuẩn liên cầu gây thấp khớp hở van tim.

– Khi amidan quá lớn gây chèn ép đường ăn đường thở.

– Khi amidan lớn 1 bên nghi ngờ ung thư và một số chỉ định đặc biệt để mở đường cho các phẫu thuật khác.

Trường hợp con bạn tôi thấy nên quyết tâm cắt amidan cho cháu. Mục đích là để khai thông đường thở vì con bạn có triệu chứng tắc nghẽn đường thở rõ như ngáy và không thể ngủ nằm ngửa.

Không nên chờ đợi nữa vì con bạn không thể chịu đựng khó thở thêm đến vài năm. Khó thở ngày càng tăng có thể gây tắc thở trong khi ngủ, nguy hiểm tính mạng.

Đó là chưa kể còn phải dùng rất nhiều thuốc kháng sinh không có lợi cho cơ thể trong vài năm nữa.

Cắt amidan gây mê trẻ em bây giờ làm rất nhiều. Bạn nên yên tâm vì hiện nay thuốc gây mê rất tốt và có nhiều loại thuốc gây mê rất an toàn cho trẻ em.

Chúc bạn nhanh có quyết định sáng suốt cho sức khỏe con mình.

Hỏi bác sĩ: Bé bị sưng amidan thường xuyên, phải làm sao?

Thưa bác sĩ,

Con trai tôi 3 tuổi. Cháu rất hay bị sưng amidan, tôi cho uống thuốc kháng sinh mà không thấy đỡ. Đi viện BS kê đơn mua kháng sinh, thuốc tiêu viêm, hạ sốt. Uống thuốc cháu chỉ bớt sốt còn amidan vẫn sưng to. 1 tháng cháu phải uống thuốc kháng sinh 2 lần là ít. Cháu hiện rất còi, tôi cũng chịu khó bồi bổ nhưng cháu vẫn vậy.

Xin hỏi bác sĩ, tôi phải làm gì để con tôi khỏi bệnh? BV nào chữa bệnh của con tôi là tốt nhất? Mong BS giải đáp giúp tôi.

Trả lời:

3 tuổi là thời kỳ hệ miễn dịch chưa đầy đủ, sức đề kháng còn yếu. Do đó, trẻ hay mắc các bệnh nhiễm siêu vi trùng và vi trùng. Nếu kèm theo tình trạng suy dinh dưỡng thì tình trang nhiễm bệnh còn cao hơn.

Bởi vậy, để trẻ khỏe mạnh, bạn phải có chế độ dinh dưỡng, nghỉ ngơi, vui chơi, môi trường sống… phù hợp với thể chất từng cháu. Chăm sóc cháu cẩn thận, chu đáo, vệ sinh sạch sẽ, phòng bệnh tích cực, hạn chế tiếp xúc với tác nhân gây bệnh: nơi đông người, trời lạnh hay nóng quá, môi trường ô nhiễm, điều trị tích cực các bệnh nhiễm siêu vi tránh các biến chứng nhiễm trùng…

Con bạn hay bị viêm amidan là hệ quả tất yếu của tiến trình này. Sau 4-5 tuổi, khi cơ thể khỏe mạnh hơn, sức đề kháng đầy đủ hơn, cháu sẽ bớt nhiễm bệnh.

Nếu cháu viêm amidan thường xuyên, gây ảnh hưởng tới phát triển thể chất (suy dinh dưỡng, khó thở, hơi thở hôi…), hay có những biến chứng nặng như: viêm phế quản, viêm phổi, viêm tim, viêm khớp… có thể phải cắt amidan. Bạn nên đưa cháu tới bệnh viện có BS chuyên khoa Tai Mũi Họng khám và điều trị tích cực nhé!

Các BV Nhi, BV Tai Mũi Họng hay các BV đa khoa có BS chuyên khoa Tai Mũi Họng đều có thể theo dõi, điều trị cho cháu được.

Chúc cháu chóng bình phục sức khỏe!

from Healthyblog https://ift.tt/3b3cPmX

Thuốc Hạ Sốt Cho Trẻ An Toàn, Bác Sĩ Khuyên Dùng Nhất 2020

Làm cha mẹ, chúng ta hầu như ai cũng phải thường xuyên đối mặt với những cơn sốt của trẻ, từ sốt nhẹ, vừa đến sốt cao, co giật kèm nôn trớ.

Phương pháp hạ sốt được ưu tiên hàng đầu luôn là dùng thuốc hạ sốt. Thế nhưng, trên thị trường thì có vô vàn loại thuốc hạ sốt như paracetamol, aspirin, ibuprofen … vậy cách sử dụng từng loại thuốc hạ sốt như thế nào thì các mẹ đã nắm rõ chưa? Mời các mẹ theo dõi bài viết sau nhé.

TRẺ BỊ SỐT NÊN DÙNG NHỮNG LOẠI THUỐC HẠ SỐT NÀO?

Các thuốc có thành phần Paracetamol là lựa chọn hàng đầu để hạ sốt cho trẻ do độ an toàn cao và ít tác dụng phụ. Ngoài ra, còn có Ibuprofene và Aspirin nhưng chỉ dùng khi có chỉ định của bác sĩ do có nhiều tác dụng phụ.

Các qui tắc chung khi sử dụng thuốc hạ sốt.

– Không tự ý cho trẻ dưới 3 tháng dùng thuốc mà không có ý kiến bác sĩ.

– Tính liều theo cân nặng của trẻ.

– Đọc kỹ nhãn thuốc, chỉ dẫn trước khi dùng.

– Cho trẻ dùng thuốc đúng liều lượng.

– Dùng thuốc còn trong hạn sử dụng.

PARACETAMOL

Hạ sốt cho trẻ

An toàn cao cho trẻ, liều dùng là 60mg/kg/ngày hoặc 15mg/kg mỗi 6 giờ hoặc 10mg/kg mỗi 4 giờ. Nên cân trẻ để tính liều cho chính xác. Trường hợp trẻ bị suy thận, khoảng cách giữa các lần dùng thuốc tối thiểu là 8 giờ.

Ví dụ: Bé nặng 13kg thì sẽ cho trẻ uống mỗi 4 giờ là 130mg hoặc 195mg mỗi 6 giờ (Tương đương 1 gói Hapacol 150mg + ½ gói Hapacol 80mg).

Thông dụng nhất là các dạng tọa dược (thuốc đút hậu môn) và dạng uống, ngoài ra còn có dạng tiêm truyền nhưng chỉ được sử dụng ở bệnh viện.

Dạng tọa dược:

– Thích hợp khi cần hạ sốt trong lúc trẻ ngủ, ói nhiều và trẻ đang lên cơn sốt cao co giật.

– Điều trị bằng tọa dược ngắn hạn, sau đó chuyển sang dạng uống vì dạng tọa dược có thể gây ngứa, kích thích trực tràng.

– Cách dùng: Làm lạnh viên thuốc trước khi đặt. Chỉ đặt cho viên thuốc vừa vào hết hậu môn là được. Không đặt thuốc quá sâu vì như thế thuốc sẽ giảm tác dụng. Nên cho trẻ nằm yên vài phút sau khi đặt viên thuốc. Trong trường hợp đặt 2 viên mới đủ liều thì sau khi đặt viên thứ nhất, phải đợi 1-2 phút mới đặt tiếp viên thứ 2. Tốt nhất nên chọn loại viên tọa dược có hàm lượng phù hợp.

Dạng uống:

– Thích hợp khi cần hạ sốt trong lúc bé thức, có nhiều dạng như thuốc bột, thuốc giọt, xirô, thuốc viên.
– Gói bột sủi bọt là dạng uống phổ biến nhất.
– Cách dùng: Cho thuốc vào một cốc nhỏ nước để hòa tan, cho trẻ uống ngay sau khi thuốc đã hòa tan hoàn toàn.

Ở Việt Nam, các bác sĩ nhi khoa khuyến cáo các bậc phụ huynh sử dụng Paracetamol để hạ sốt cho trẻ vì tính an toàn, ít tác dụng phụ và dễ uống. Tuy nhiên, thuốc chỉ là nhất thời, các bậc phụ huynh không nên lạm dụng liên tục mà nên có sự hỗ trợ cùng với biện pháp lau mát liên tục, mặc áo mỏng, thoáng mát để các bé giảm sốt.

ASPIRIN

– Không được dùng khi trẻ bị loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, sốt xuất huyết.

– Từ nhiều năm nay, Aspirin ít được dùng để hạ sốt cho trẻ em vì có thể gây nhiều tác dụng phụ trên đường tiêu hóa và có liên quan đến hội chứng Reye’s (gây tổn thương gan và thần kinh).

– Liều dùng 60mg/kg/ngày hoặc 15mg/kg mỗi 6 giờ.

– Chỉ nên dùng khi có chỉ định của bác sĩ.

IBUPROFENE

– Chỉ dành cho trẻ trên 6 tháng tuổi.

– Ở trẻ nhỏ, Ibuprofene thường gây nhiều tác dụng phụ, nhất là ở trẻ bị thủy đậu.

– Không được dùng khi trẻ bị lóet dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, sốt xuất huyết.

– Liều dùng 20-30mg/kg/ngày hoặc 7-10mg/kg mỗi 6-8 giờ đường uống.

– Chỉ nên dùng khi có chỉ định của bác sĩ.

Hạ sốt cho trẻ

Cách dùng thuốc đặt hậu môn cho trẻ bị sốt

Thuốc đặt hậu môn là giải pháp thay thế hiệu quả cho thuốc uống trong một số trường hợp bệnh nhân nôn mửa, hôn mê, trẻ em không chịu uống thuốc, tuy nhiên cần phải dùng đúng cách thì thuốc mới có tác dụng tốt.

Thuốc đặt hậu môn (trực tràng) thường được khuyên dùng nhằm mục đích trị táo bón, bệnh trĩ, viêm nhiễm hậu môn. Tác dụng toàn thân là giảm đau hạ sốt, hen suyễn.

Khi đặt thuốc cho trẻ bị sốt, phụ huynh cần rửa tay sạch bằng xà phòng, tháo bỏ bao thuốc, đặt trẻ nằm nghiêng một bên ở tư thế gối gập vào bụng.

Một tay giữ mông và bộc lộ vùng hậu môn, tay còn lại nhẹ nhàng đặt thuốc vào hậu môn của trẻ cách hậu môn khoảng 1 cm (khoảng cách này giúp thuốc hấp thu tốt nhất, thuốc không phải chuyển hóa qua gan), đầu nhọn vào trước.

Hạ sốt cho trẻ

Động tác cuối cùng là khép giữ hai nếp mông trẻ để thuốc không rơi ra ngoài trong 2 – 3 phút.

Khi dùng thuốc đặt hậu môn cho trẻ cần lưu ý thuốc phải được bảo quản ở nhiệt độ lạnh, nên để trong ngăn mát tủ lạnh với nhiệt độ từ 2oC – 8 oC. Tốt nhất trước khi dùng nên để vào đá hay ngăn mát tủ lạnh vài phút để bảo đảm đủ độ cứng, dễ dàng đưa thuốc vào trực tràng.

Phụ huynh nên dùng đúng liều, không nên dùng đồng thời thuốc đặt có chung tác dụng với thuốc uống vì sẽ gây ngộ độc do quá liều. Thuốc đặt hậu môn có hiệu quả tương đương với thuốc uống và thời gian có tác dụng chậm hơn thuốc uống. Thuốc có thể gây ngứa tại chỗ, gây tiêu chảy nếu dùng nhiều lần hoặc khoảng cách quá gần.

Lưu ý khi dùng thuốc hạ sốt đặt hậu môn:

– Không dùng thuốc đặt hậu môn cho trẻ đang bị tiêu chảy, viêm da vùng hậu môn – trực tràng, hoặc đang chảy máu hậu môn.

– Không dùng cho trẻ thường bị táo bón hoặc đang có bệnh lý vùng hậu môn vì ảnh hưởng tới sự hấp thu của thuốc, làm giảm tác dụng của thuốc.

– Không cho bé uống thêm thuốc hoặc vừa uống thuốc vừa dùng thuốc hạ sốt đặt hậu môn vì có thể gây quá liều.

– Tham khảo kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc hoặc chỉ dẫn của bác sĩ khi dùng thuốc hạ sốt đặt hậu môn cho bé.

Dược sĩ Trương Anh Thư – Bệnh viện Nhi Đồng 1 TP HCM

Hạ sốt cho trẻ

NHỮNG SAI LẦM KHI DÙNG THUỐC HẠ SỐT

Thuốc dùng để hạ sốt hiện nay rất phong phú, đa dạng, dễ kiếm, dễ sử dụng nhưng đối tượng người dùng cũng vô cùng phức tạp. Điều quan trọng là dùng thuốc sao cho đúng và an toàn, đạt hiệu quả chữa bệnh tối ưu… Trên thực tế vẫn gặp nhiều trường hợp bị ngộ độc thuốc do việc tự ý dùng thuốc chưa đúng của người dân.

Tâm lý dùng cho chắc:

Nhà bên có cháu nhỏ mới 5 tháng tuổi, vừa đi tiêm phòng vaccin về cháu hâm hấp sốt. Đây cũng là phản ứng rất bình thường của cơ thể. Nhưng vì quá lo lắng nên khi cặp nhiệt độ cho con thấy 37,5oC, chị Thúy (mẹ của cháu) vội cho con dùng ngay thuốc hạ sốt để ngăn chặn sốt có thể tăng cao.

Chị cho rằng, sốt nhẹ thì dùng phương án nhẹ nhất là dán cao. Bởi theo chị dùng thuốc viên thì phải sốt nặng hơn, trên 38oC và thuốc đạn là nặng nhất (39 – 40oC). Nếu con sốt cao trên 38oC thì chị sẽ cho uống thuốc hoặc viên đạn nhét hậu môn.

Qua đó có thể thấy rằng nhiều người dùng thuốc hạ sốt mà chưa hiểu về bản chất của sốt và công dụng của các loại thuốc.

Sự thật như thế nào?

Sự thật là các thuốc hạ sốt đều có chung hoạt chất giống nhau, chúng chỉ khác nhau ở dạng bào chế. Hiện nay, có hai loại thuốc hạ sốt cơ bản thông thường là acetaminophen (paracetamol) và axít acetylsalicylic (aspirin). Các loại thuốc khác như bạc hà chỉ tạo ra cảm giác lạnh, hydrogel chỉ là dạng tinh thể ngậm nước (như trong miếng dán lạnh) không phải là thuốc hạ sốt.

Các thuốc chỉ khác nhau ở dạng bào chế là thuốc dạng viên nén, viên sủi, dạng viên đạn nhét hậu môn, dạng gel bôi, dạng bột trong gói và dạng cao dán.

Quan điểm của chị Thúy sai thứ nhất về phản ứng sốt. Thực ra sốt là một phản ứng cấp tính của hệ miễn dịch, tạo ra các chất trung gian hóa học của viêm, mà người ta cho rằng, các chất này chịu trách nhiệm tạo ra sốt bao gồm: các prostagladin, các cytokin và intereukin.

Những chất trung gian này là chất làm sai lạc nhận cảm của hệ dưới đồi về thân nhiệt. Lẽ ra cơ thể đang ở nhiệt độ bình thường thì chúng lại cảm nhận là nhiệt độ thấp và tăng tốc tạo ra phản ứng sinh nhiệt nhằm nâng nhiệt cơ thể lên. Ngay lập tức, cơ thể sốt cao. Nhưng ngoài tác dụng không có lợi là gây ra sốt, các chất trung gian này rất có ích về mặt miễn dịch. Chúng là các chất hóa ứng động (thu hút) bạch cầu hiệu quả.

Chúng thu hút và hấp dẫn bạch cầu (các tế bào có thẩm quyền miễn dịch) đến vị trí nhiễm khuẩn và thực hiện phản ứng. Hoạt động này như là một quá trình tập luyện cho hệ miễn dịch khỏe thêm.

Vì thế, khi trẻ sốt không cao, bạn không cần phải can thiệp gì. Bạn cần để cho cơ thể tập chống chọi với các phản ứng sinh học bất lợi. Có thể nói rằng, trong trường hợp trên, phản ứng sốt nhẹ sẽ tập cho cơ thể bé khả năng chống đỡ. Nếu dùng ngay khi nhiệt độ mới tăng nhẹ lên như trên, thực không thu được lợi ích lớn.

Sai lầm thứ hai ở quan điểm chọn thuốc. Thuốc nặng nhẹ khác nhau ở liều của thuốc chứ không ở dạng bào chế. Quan điểm cho rằng thuốc dán thì nhẹ hơn thuốc viên, thuốc viên thì không mạnh bằng thuốc đạn là phi thực tế.

Dù là thuốc dán, thuốc viên, thuốc bột hay thuốc viên đạn thì chúng đều được bào chế dưới công nghệ sao cho chất chính (là thuốc hạ sốt) có thể ngấm dễ dàng và đi vào cơ thể.

Chất thuốc từ miếng dán sẽ ngấm qua da và vào trực tiếp hệ thần kinh. Thuốc đạn và thuốc viên sẽ đi qua thành ruột, vào máu rồi cũng lên hệ thần kinh. Khả năng hạ sốt hoàn toàn phụ thuộc vào lượng thuốc tồn trong máu chứ không phụ thuộc vào việc bạn chọn miếng dán hay gói bột, gel bôi.Hạ sốt cho trẻ

Dùng cho đúng

Vậy dùng đúng thuốc hạ sốt thế nào cho đúng để vừa tránh được những tai biến do thuốc gây ra và đạt được hiệu quả.

Thứ nhất, dùng đúng thời điểm: Bạn chỉ nên dùng khi em bé có nhiệt độ sốt cao từ 38,5oC trở lên. Từ 37,1oC – 38,4oC là mức độ sốt nhẹ, an toàn với trẻ và mang tính kích thích miễn dịch.

Thứ hai, dùng đúng loại thuốc: Bé bị trớ thì dùng thuốc cao dán, thuốc viên đạn. Bé bị tiêu chảy thì dùng thuốc cao dán và thuốc uống. Nếu bé có phát ban ở da thì không dùng miếng dán hạ sốt.

Thứ ba, dùng đúng liều: Không nên dùng quá 2.000mg/ngày (4 viên 500mg) với người lớn và 1.000mg/ngày (4 gói 250mg) với trẻ em. Khi dùng cho trẻ em phải tính toán liều lượng (hoặc theo sự chỉ định cụ thể của bác sĩ hoặc là phải tính toán theo cân nặng trong hướng dẫn sử dụng thuốc để tính liều).

Thứ tư, kết hợp đúng cách: Trước hết, nên hạ sốt bằng các biện pháp vật lý như chườm mát (nước từ 25oC trở lên), lau nước mát. Sau đó nếu bé vẫn sốt thì cho uống thuốc hoặc kết hợp uống thuốc và lau mát. Nhớ là chỉ lau tối đa 3 lần trong cơn sốt. Lau lần 1 khô thì mới lau tiếp lần 2, lần 3.

BS. Nguyễn Thu Hiền giải đáp

Hy vọng qua bài viết trên đây, các mẹ đã trang bị cho mình những kiến thức cần thiết trước khi quyết định sử dụng thuốc hạ sốt cho bé cưng của mình. Các mẹ nhớ lưu ý là sốt là biểu hiện ban đầu khi cơ thể bé đang gặp và phải đối kháng các đối tượng lạ xâm nhập.

Sốt không phải là bệnh, do đó, các mẹ cần phải luôn theo dõi gắt gao tình trạng bé để có thể nhận biết sớm các bệnh để có hướng điều trị kịp thời nhé. Việc lạm dụng thuốc hạ sốt có thể sẽ làm mất đi những dấu hiệu nhận biết bệnh ban đầu, sẽ làm cho các bác sĩ càng thêm khó chuẩn đoán bệnh.

from Healthyblog https://ift.tt/2OlnjEF

Có Nên Thụt Hậu Môn Cho Trẻ Táo Bón Hoặc Dùng Thuốc Làm Mềm Phân Duphalac?

Có nên thụt hậu môn cho trẻ bị táo bón hay không là thắc mắc của rất nhiều ông bố bà mẹ gửi đến các bác sĩ nhi khoa. Câu trả lời đồng nhất là: không nên. Vậy còn thuốc làm mềm phân duphalac thì sao, có dùng thường xuyên cho bé bị táo bón được không. Mời các bạn tham khảo tư vấn của các bác sĩ trong bài viết này nhé.

Các bác sĩ cho biết, xuất phát từ chế độ ăn uống, sinh hoạt chưa phù hợp và những đặc điểm sinh lý hệ tiêu hóa, trẻ nhỏ và phụ nữ có thai là hai đối tượng rất dễ bị táo bón.

Thông thường, trẻ rất có thể đã mắc phải chứng táo bón khi bé có những biểu hiện như giảm số lần đại tiện bình thường, kèm theo đi tiêu khó và đau do phân rắn hoặc quá to.

Khi số lần đi tiêu của trẻ sơ sinh dưới 2 lần/ngày, của trẻ bú mẹ dưới 3 lần/tuần (trên 2 ngày/lần), của trẻ lớn dưới 3 ngày/lần thì coi là bị táo bón.

Cách thụt tháo cho trẻ

Các nguyên nhân dẫn đến táo bón ở trẻ nhỏ

  • Do ăn uống: Ăn chưa đủ số lượng, pha sữa quá đặc cho trẻ ăn, mẹ bị táo bón cho con bú, bé ăn ít chất xơ, không chịu ăn rau quả, chỉ ăn nước không ăn rau, quả hoặc uống chưa đủ nước hàng ngày.
  • Do yếu tố tâm lý: Ham chơi quên đi đại tiện hoặc không tập được thói quen đi đại tiện đúng giờ.
  • Do dùng thuốc: Hay gặp khi trẻ bị ốm phải dùng thuốc kháng sinh gây mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột, hoặc thuốc ho có codein, viên sắt…
  • Bệnh toàn thân: Trẻ còi xương, trẻ suy dinh dưỡng do biếng ăn nên thường ăn ít dẫn đến tình trạng “đói” phân, vài ngày trẻ mới đi ngoài một lần.
  • Bệnh ngoại khoa, tiêu hóa: Dị tật bẩm sinh như phình to đại tràng, hẹp ruột, hẹp hậu môn, nứt kẽ hậu môn

Ngoài ra, táo bón ở trẻ nhỏ còn là vòng lẩn quẩn, bé bị táo bón, đại tiện đau rát nên bé cố nhịn đại tiện làm táo bón ngày càng nặng thêm.

Có nên dùng thuốc thụt hậu môn khi trẻ bị táo bón?

Bác sĩ nhi khoa cho biết, không nên dùng thuốc thụt hậu môn kéo dài vì sẽ gây cảm giác rát bỏng và mất phản xạ đi vệ sinh tự nhiên của trẻ, thậm chí dùng nhiều có thể dẫn đến chảy máu hậu môn của bé.

Ngoài việc điều chỉnh chế độ ăn uống, thói quen đi vệ sinh vào một giờ nhất định, tăng cường vận động và uống nhiều nước đó là những nguyên tắc vàng để tránh táo bón.Cách thụt tháo cho trẻ

Cần chú ý cho bé ăn nhiều sữa chua, tránh ăn các loại thực phẩm gây táo bón như hồng xiêm, ổi, cà rốt…, ăn nhiều rau có chất xơ như rau mồng tơi, rau muống, rau dền, rau khoai lang, rau ngót, rau đay…các loại thực phẩm nhuận tràng như khoai lang, chuối, thanh long, cam… giúp trẻ đi ngoài dễ dàng hơn..

Ngoài ra, cũng có thể tham khảo các biện pháp thụt dân gian tạo phản xạ đi ngoài cho bé như dùng cọng trắng của hành lá nhúng vào dầu ăn làm vài lần là trẻ có thể đi ngoài được, hoặc bơm nước nóng vào hậu môn. Những phương pháp này an toàn hơn so với việc dùng thuốc thụt.

Hiện nay trên thị trường có khá nhiều loại thực phẩm chức năng hỗ trợ chữa táo bón cho trẻ em mà thành phần thường là chất xơ thiên nhiên, các loại lợi khuẩn đường ruột. Tuy nhiên, tốt nhất nên đưa bé đi khám chuyên khoa tiêu hóa nhi để các bác sĩ thăm khám và tìm đúng nguyên nhân gây táo bón.

Có nên dùng thuốc làm mềm phân Duphalac khi bé bị táo bón, đi ngoài ra máu?

Hỏi: Con nhà em 22 tháng, nặng 15kg, thường xuyên bị táo bón. Mỗi ngày cháu ăn hai chén cháo cùng với nhiều rau như mồng tơi, bó xôi…

Hai tháng trước có đi khám bác sĩ cho uống Duphalac (10 gói) thì bé đi bình thường mỗi ngày. Khi ngừng thuốc thì bé vẫn táo bón như cũ, hai ngày đi tiêu một lần, phân cũng có ra tí máu. Xin hỏi nếu dùng thuốc này lâu dài có được không ạ. Hiện bé đang uống mỗi lần nửa gói và hai ngày uống một lần do phân hơi lỏng. Xin cảm ơn bác sĩ (Lam Thanh).

Trả lời của bác sỹ chuyên khoa nhi:

Chào bạn, con bạn đang có tình trạng táo bón mạn với biểu hiện ít đi cầu, phân cứng và có máu. Bạn chỉ cần cho bé uống thuốc làm mềm phân (Duphalac) thì tình trạng có cải thiện nhưng khi ngưng thuốc thì táo bón tái diễn lại. Điều này chứng tỏ táo bón của con bạn là dạng chức năng thôi, không do bất thường của thần kinh hay cấu tạo ruột, có thể cải thiện bằng chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng và tập luyện.Cách thụt tháo cho trẻ

Trước tiên, để bé đi cầu đều đặn và dễ dàng mỗi ngày thì khối lượng phân phải đủ lớn để kích thích bóng trực tràng gây cảm giác mắc đi cầu và phản xạ tống xuất, phân phải đủ mềm để đi cầu không đau, không chảy máu, không làm bé sợ mà nín không dám đi. Ngoài ra, nhu động ruột phải đủ mạnh để tống chất thải xuống và tống ra ngoài. Để cả quá trình này dễ dàng, chế độ sinh hoạt và dinh dưỡng phải phù hợp với bé.

Để khối phân đủ lớn, bạn cần tăng thêm chất xơ trong thức ăn. Hiện nay con bạn ăn 2 chén cháo với nhiều rau, nhưng có lẽ chưa đủ nhu cầu của bé. Bạn có thể chia 2 chén cháo thành 3 bữa, để có thể tăng lượng rau lên thêm nữa. Ngoài ra thêm trái cây có nhiều xơ sau bữa ăn. Vì con bạn đã ở mức béo phì, do đó tôi không khuyến cáo bạn tăng thêm phần tinh bột hoặc chất béo, nhưng vẫn phải đảm bảo đủ cho nhu cầu phát triển của lứa tuổi.

Trả lời

Bạn cũng cần xem lại chế độ sữa cho bé, xem có quá dư thừa không, cách pha hay thành phần chưa phù hợp làm bé béo phì mà lại bón. Thuốc nhuận tràng bạn dùng cũng giúp làm tăng khối lượng phân cho bé nên bé dễ đi cầu.

Để phân mềm, các thức ăn phải cân đối về thành phần, một số loại khi dư thừa sẽ gây táo bón, chẳng hạn quá dư đạm, một số dạng chất béo, nhiều canxi hay sắt… Thiếu nước cũng là nguyên nhân làm phân rắn hơn.Cách thụt tháo cho trẻ

Ngoài ra những bé bị bón lâu ngày, sau một thời gian đi cầu bị đau sẽ có xu hướng nín đi cầu, nên phân bị ứ trong ruột già bị hút nước càng khô cứng hơn, bé càng sợ đi cầu hơn. Vì vậy, người ta có thể dùng thuốc làm mềm phân và bơm hậu môn tạo phản xạ đi cầu đều đặn, tránh ứ phân trong thời gian đầu mới điều trị để chặt đứt vòng luẩn quẩn này.

Tuy nhiên, thuốc nhuận tràng dùng lâu dài có thể bị giảm tác dụng, đòi hỏi tăng liều dần, dùng nhiều có thể gây chướng bụng do bị vi khuẩn trong đại tràng lên men nên cũng không phải là giải pháp lâu dài và cơ bản.

Trả lời

Nhu động ruột liên quan nhiều đến vận động chủ động của bé. Bé cần đi, đứng, chạy nhảy thường xuyên. Những bé béo phì thường lười vận động vì mau mệt, thích ăn ngọt, ăn thịt, ăn cơm mà không thích ăn rau trái cây nên dễ bị bón hơn các bé khác.

Bạn nên cho bé đến khám dinh dưỡng để đánh giá và điều chỉnh chế độ nuôi dưỡng, bên cạnh dùng thuốc phải có những biện pháp thay đổi cơ bản trong sinh hoạt để có hiệu quả lâu dài và an toàn cho bé nhé.

Sau khi đọc xong bài viết này, các ông bố bà mẹ đã có câu trả lời cần biết rồi nhỉ. Lưu ý lại rằng, thụt hậu môn cho bé bị táo bón chỉ làm khi có chỉ định của bác sĩ, không được tự tiện quyết định, các bạn nhé.

from Healthyblog https://ift.tt/36OkNNA

Design a site like this with WordPress.com
Get started